BẢN TIN HÔM NAY

TỔNG HỢP SỐ LIỆU HOẠT ĐỘNG HỌC KÌ I, NĂM HỌC 2024 – 2025. Thực hiện việc bổ sung sách báo tài liệu và tạp chí, luân chuyển sách báo phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập của GV và HS: Bổ sung sách GV, SGK: 390 quyển, quyển trị giá 11.488.000đ. Bổ sung tạp chí: 30 quyển trị giá 784.000đ.. Cập nhật tài liệu trên trang thư viện điện tử cập nhật được 5 cuốn/ ngày, đến ngày 12/01/2025 có 1139 file sách (học kì I tăng 750 file sách). Website Thư viện Tiểu học Thanh Bình đến ngày 12/01/2025 có 3252 file sách, link sách nói, video… (học kì I tăng 2240 file). Tổng số file sách online: 4.391 file. Tuyên truyền giới thiệu sách tới giáo viên, học sinh học kì I: 38 cuốn, và 03 video giới thiệu sách; 15 bài giới thiệu sách và tin về hoạt động Thư viện đăng đăng trên website của nhà trường và liên kết trực tiếp với PGD.

TÀI NGUYÊN SỐ

Video giới thiệu sách từ các lớp

HỌC LIỆU TIẾT HỌC - TIẾT ĐỌC THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Z7068391634024_e728b2146fbd0d3ab9141243ba8f745b.jpg Z7068391617504_bfbb5b659810eaa98be9e6dbb6961d32.jpg Z7068391617504_bfbb5b659810eaa98be9e6dbb6961d32.jpg Z7068391589013_9ebc5201ff749d04e79af0ab61d01cc8.jpg Z7068391583037_d8796e861d03d1a5173e53f771115dba.jpg Z7068390559876_566379532d4cf134741594c7833d05c6.jpg Z7068390556924_ed2e93f43b07954771ddbe95d4c7e51c.jpg Z7068379972927_e272b569e6f2eebe403f11d7cd6924b6.jpg Z6551496203851_541660cb127fb96f0c304a5b930441a6.jpg Z6551496203603_7d623e0ef640c7dc7a8ddfa7f60f3cf3.jpg Z6551496180143_466132e96efd0b0b9935093040a60493.jpg Z6551496179843_cdb1c71cfcb757f47560c395b57a7acf.jpg Z6551496177230_4c74026c87b1c1bcf0274edee0c135e6.jpg Z6551496177230_4c74026c87b1c1bcf0274edee0c135e6.jpg Z6551496174403_7a788a087f20d5306fe8e34fa2b78060.jpg Z6551394940185_ac8354f6287049dd635bcf9a9b1eccb3.jpg Z6551394935244_f160f58c66979ef902e45eea9dd16bda.jpg Z6551394894715_35748b0a3f72aea90b481e21ed6f48ad.jpg Z6551394893407_2d578e7eb1299f4b31529cda89dd256b.jpg Z6551394891688_d6832c3038583562f2f98b6b1a086c50.jpg

    SÁCH NÓI

    TẠP CHÍ THƯ VIỆN TIỂU HỊC THANH BÌNH

    CÁC CA KHÚC KỈ NIỆM NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC

    Túp lều Bác Tôm

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hoàng Thị Phương
    Ngày gửi: 08h:44' 17-11-2024
    Dung lượng: 1.8 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    LỜI NÓI ĐẦU

    N

    ước Mĩ mới được thành lập từ cuối thế kỉ XVIII, sau khi
    đánh bại bọn thực dân Anh. Vừa ra đời, nó ra sức phát triển
    công nghiệp, với ý đồ đuổi kịp và vượt các nước tư bản châu
    Âu. Ngay từ đầu, tư bản Mĩ đã thấm đầy máu và mồ hôi của
    nhân dân lao động, nhất là của những người nô lệ da đen. Đầu thế kỉ
    XIX, kinh tế Mĩ phát triển mạnh, nhân công thiếu một cách nghiêm
    trọng. Để có nhân công, bọn con buôn sang châu Phi, buôn những
    người da đen; chúng xông vào các thành thị, thôn xóm châu Phi, lùa
    từng đoàn người xuống tàu biển chở sang Mĩ làm nô lệ. Biết bao cảnh
    đàn áp, đánh đập, giết tróc vô cùng tàn nhẫn. Chúng nhốt những
    người da đen vào cũi dưới hầm tàu, đẩy họ lên đất Mĩ sống cuộc đời
    nô lệ. Một số những người nô lệ ấy, phần nhớ quê hương đất nước,
    gia đình làng mạc, phần bị hành hạ hết sức dã man, đã bỏ mình trên
    đường tới nước Mĩ, và xác họ bị vứt xuống biển. Hàng vạn người đã
    chịu số phận như thế. Những người sống sót bị bán ở các chợ bán nô
    lệ nhan nhản trên thị trường Mĩ lúc bấy giờ. Họ bị xiềng xích, đánh
    đập, vợ lìa chồng, cha bỏ con, cuộc đời đầy tủi nhục, oán hờn. Những
    người nô lệ bị coi như đồ vật, những "đồ vật biết nói" không có chút
    quyền mảy may; chủ nô lệ có đủ mọi quyền hành đối với họ như đối
    với những đồ vật vô tri vô giác. Chúng tha hồ đánh đập, bán đi mua
    lại, hoặc giết chết. Đó là một chế độ cực kì dã man, một vết nhơ trong
    lịch sử nước Mĩ. Nhưng ở đâu có áp bức, ở đấy có đấu tranh. Những
    người nô lệ da đen đã nhiều lần nổi dậy để tự giải phóng; nhưng họ bị
    đàn áp khốc liệt, những cuộc nổi dậy bị nhấn chìm trong biển máu.
    Đến giữa thế kỉ XIX, vì vấn đề chế độ nô lệ, nước Mĩ chia làm hai
    miền chống đối nhau; một cuộc nội chiến gọi là "Bắc Nam phân
    tranh" kéo dài 5 năm (1860 - 1865). Ở miền Bắc nước Mĩ, công
    nghiệp phát triển mạnh mẽ cần nhiều công nhân có quyền tự do vào
    làm các xưởng máy, do đó chủ trương xóa bỏ chế độ nô lệ để thu hút
    nhân công từ ruộng đất vào xí nghiệp. Nhưng ở miền Nam nước Mĩ,
    đất đai màu mỡ, việc trồng bông rất thuận tiện. Công nghiệp dệt lại
    đòi hỏi nhiều bông. Nhu cầu về bông tăng lên vùn vụt. Bọn tư bản
    miền Nam muốn giữ nhân công gắn chặt với ruộng đất của chúng, cố
    sức duy trì chế độ nô lệ. Mâu thuẫn về quyền lợi của tư bản giữa hai
    miền Nam - Bắc tăng lên. Đó là nguyên nhân xảy ra nội chiến ở Mĩ.
    Từ năm 1840, ngay ở miền Nam nước Mĩ, có những người Mĩ có xu

    hướng tiến bộ chủ trương giải phóng nô lệ. Họ đấu tranh lên báo chí,
    trong nghị trường, đòi chính phủ phải hủy bỏ chế độ vô nhân đạo ấy.
    Họ giúp người nô lệ da đen trốn khỏi địa ngục là những đồn điền
    bông; ở đó người da đen bị ngược đãi hết sức dã man. Họ tổ chức
    những chặng đường bí mật, những trạm đón tiếp nô lệ bỏ trốn, dẫn
    sang Canada, là đất nước lúc bấy giờ không còn chế độ nô lệ (Canada
    xóa bỏ chế độ nô lệ năm 1833). Đất Canada tượng trưng cho sự tự do
    của những người nô lệ da đen ở Mĩ lúc bấy giờ. Hoàn cảnh ra đời của
    tác phẩm "Túp lều bác Tom" là như thế.
    Bà Harriet Beecher Stowe (1811 - 1896) - tác giả của quyển sách
    này, sống ở bang Ohio, một bang ở sát miền Nam nước Mĩ, nơi chế
    độ nô lệ tồn tại khốc liệt nhất. Bà đã mắt thấy tai nghe những cảnh
    buôn bán nô lệ rất thương tâm; bà đã chứng kiến những cảnh lao
    động khổ nhục của người nô lệ; bà đã thấy họ bị đày đọa, đánh đập
    tàn nhẫn như thế nào; bà đã thấy bọn chủ nô dùng chó săn đuổi bắt,
    cắn xé người nô lệ bỏ trốn, hoặc dùng súng đi săn bắt họ như săn bầy
    thú rừng. Bà cũng đã thấy những cuộc đấu tranh của người da đen để
    tự giải phóng, và đã viết nên tác phẩm "Túp lều bác Tom". Những
    người Mĩ có xu hướng tiến bộ lúc ấy coi nô lệ da đen là những con
    người cũng có tình thương yêu gia đình thắm thiết, cũng có một tâm
    hồn phong phú, có trí thông minh tuyệt vời và có tinh thần đấu tranh
    gan dạ. Họ đứng về phía tự do, bảo vệ quyền của con người, coi chế
    độ nô lệ là một chế độ dã man cần xóa bỏ. "Túp lều bác Tom" đã
    nói lên điều đó.
    Tác phẩm kể cuộc đời thống khổ của một người nô lệ da đen là
    bác Tom. Bác là một người trung thực, ngay thẳng, biết trọng danh
    dự. Nhưng cuộc đời bác là một chuỗi ngày đen tối, đầy tủi nhục. Bác
    phải lìa bỏ vợ con, bị bán từ nơi này qua nơi khác, bị đánh đập tàn
    nhẫn. Cuối cùng, do bảo vệ nhân phẩm của mình, bác bị đánh chết
    trong một đồn điền trồng bông khủng khiếp ở miền Nam nước Mĩ,
    nơi chôn vùi bao nhiêu cuộc đời lầm than như cuộc đời bác. Tác
    phẩm còn kể số phận của Eliza cùng đứa con, bỏ trốn đi. Đó là một
    người mẹ đã hi sinh tất cả để cứu đứa con khỏi rơi vào tay một tên
    buôn nô lệ tàn ác; đó là một người vợ tha thiết yêu chồng - một thanh
    niên thông minh, đã sáng chế ra một cái máy tước sợi gai, mà cuộc
    đời cũng bị đày đọa, trăm nghìn cay đắng.
    "Túp lều bác Tom" ca ngợi những người nô lệ da đen là những
    người trung thực, biết tôn trọng phẩm giá con người như bác Tom,

    những người mẹ dũng cảm như Eliza, những thanh niên cương nghị,
    tha thiết với tự do như George. Đồng thời, tác phẩm cũng lên án đanh
    thép chế độ nô lệ nhan nhản những tên con buôn, những tên chủ nô
    lệ cùng bọn tay sai vô cùng tàn bạo, bọn côn đồ chỉ biết tôn thờ tiền
    vàng. Đồng tiền vàng làm chúng mất hết tính người. Pháp luật của
    nhà nước Mĩ bênh vực chế độ nô lệ, cho phép chúng đánh đập xiềng
    xích, giết chết những người da đen vô tội và trừng trị những ai che
    chở người nô lệ.
    Với tác phẩm của mình, nhà văn Stowe đã đóng góp một phần vào
    công cuộc giải phóng nô lệ ở nước Mĩ; bà tố cáo thống thiết chế độ vô
    nhân đạo ấy, khích lệ những người Mĩ có lương tâm đấu tranh để tiêu
    diệt nó.
    Đọc tác phẩm này, chúng ta cần chú ý đến hai con đường để thực
    hiện lí tưởng tự do. Bác Tom sống một cuộc đời trong sạch, bác
    thương yêu vô hạn những người cùng cảnh ngộ, bác dũng cảm chịu
    chết chứ không chịu đánh một người nô lệ khác. Bác không đấu tranh
    bạo lực, sợ đổ máu. Bác luôn luôn hướng về Chúa, nhưng Chúa không
    hề bênh vực bác và những người khổ cực như bác. Tấm lòng nhân
    đạo đưa bác đến cái chết thê thảm. Con đường thứ hai là con đường
    mà Eliza, George đã đi. Phải vùng dậy, đấu tranh không khoan
    nhượng với kẻ thù.
    Bằng những lời lên án quyết liệt chế độ nô lệ, bằng những con
    đường đấu tranh mà tác giả đã đề ra để tranh thủ mọi tầng lớp xã hội
    khác nhau ở nước Mĩ lúc bấy giờ, bà Stowe được coi là "người phụ nữ
    da trắng trẻ tuổi đã góp phần vào chiến thắng của lực lượng tiến bộ
    đòi hủy bỏ chế độ nô lệ trong cuộc nội chiến."
    Trong những năm hoạt động cách mạng thời trẻ tuổi, Bác Hồ đã
    qua Mĩ và đọc "Túp lều bác Tom". Bác là người Việt Nam đầu tiên
    lên án gay gắt chính sách phân biệt chủng tộc rất dã man của đế quốc
    Mĩ ngay từ ngày ấy, trong nhiều bài báo đăng trên báo chí ở nước
    Pháp.
    Người dịch

    1
    BẠN ĐỌC LÀM QUEN VỚI MỘT
    NGƯỜI BẠN TỐT BỤNG

    S

    ẩm tối một ngày giá lạnh tháng hai có hai người lịch sự ngồi
    trong phòng ăn bày biện sang trọng tại một ngôi nhà ở thành
    phố P - bang Kentucky. Một cốc rượu đặt trước mặt họ: hai
    chiếc ghế bành kéo sát vào nhau; kẻ ăn người làm đã bị đuổi ra
    khỏi phòng; hình như họ đang bàn luận với nhau một chuyện gì rất
    quan trọng.
    Xem xét họ kĩ hơn thì một người chẳng đáng được gọi là "người
    lịch sự." Khổ người hắn ta thấp bé phè phè ngắn ngủn, nét mặt thô lỗ,
    điệu bộ hợm hĩnh. Đúng là hắn ta thuộc loại những kẻ từ hai bàn tay
    trắng đã huých kẻ nọ người kia để leo lên bậc thang xã hội. Hắn ăn
    mặc lòe loẹt, bận một chiếc gi-lê sặc sỡ, choàng một cái khăn màu
    xanh nhạt lốm đốm vàng trên cái cổ áo kiểu lãng mạn[1] Những ngón
    tay xù xì đầy những nhẫn là nhẫn. Hắn đeo một chiếc dây đồng hồ
    nặng trĩu những đồ trang sức bằng vàng; trong lúc hăng say trò
    chuyện, hắn thích làm cho kêu leng keng. Hắn ăn nói cũng sỗ sàng
    đúng như con người hắn; hắn hay chêm vào câu chuyện của mình lắm
    tiếng chửi rủa tục tằn, dù có muốn tôn trọng sự thực đến đâu cũng
    chẳng thể kể ra đây được.
    Trái lại, ông chủ nhà, ông Shelby, thoáng nhìn cũng biết ngay là
    một người lịch sự; ngay cách xếp đặt ngăn nắp và vẻ sang trọng kín
    đáo của ngôi nhà cũng đủ chứng tỏ điều đó. Trong khi người khách
    nâng cốc rượu lên, ông nói ý kiến của ông:
    - Thế nhưng tôi tha thiết muốn giải quyết việc này.
    Gã kia đáp:
    - Không thể được, thưa ngài Shelby. Tôi không thể thỏa thuận
    trên cơ sở này được.

    Ông Shelby nhấn mạnh thêm:
    - Tom là một người đặc biệt. Ông Haley ạ, bất kì ở đâu bác ta
    cũng đáng cái giá ấy; bác ta đứng đắn, trung thực và có năng lực. Nhờ
    bác ta, công việc ở trại của tôi chạy chính xác như một chiếc đồng hồ.
    Haley mỉa mai hỏi lại:
    - Trung thực à? Trung thực kiểu một thằng da đen!
    Hắn nốc cạn cốc rượu, và không đợi mời, hắn rót thêm một cốc
    nữa. Ông Shelby nói tiếp:
    - Ông cứ tin ở tôi. Tom thật thà, lại rất biết điều và rất ngoan đạo.
    Cách đây bốn năm, bác ta đã quy đạo. Tôi chắc rằng bác ta ngoan đạo
    lắm! Tôi hoàn toàn tín nhiệm bác ta. Tiền bạc, nhà cửa, đàn ngựa, tôi
    đều giao cho bác ta cả. Tôi để mặc bác ta được tự do đi lại trong vùng
    này.
    Haley dõng dạc nói:
    - Thưa ngài Shelby, chẳng thiếu gì người không chịu tin bọn da
    đen ngoan đạo. Nhưng tôi, thì tôi tin đấy - hắn ta vừa nói vừa để tay
    lên ngực, vẻ thơ ngây giả dối tôi cũng có một thằng da đen ngoan đạo,
    trong cái bọn da đen tôi đưa sang New Orleans chuyến trước. Cứ
    nghe cái ngữ ấy cầu kinh thì y như nghe một bài giảng đạo. Bán nó,
    tôi vớ được một món hời: lãi sáu trăm đô la đấy nhé, bởi vì tôi mua
    của một anh chàng vỡ nợ, gần như chẳng mất đồng nào. Tôi rất đồng
    ý với ngài: một thằng da đen ngoan đạo quả là một món khá đấy, nhất
    là khi lòng tin của nó chân thành. Tất nhiên, phải thật sự như vậy.
    Ông chủ nhà quả quyết:
    - Tôi có thể cam đoan với ông rằng Tom chính là một người như
    vậy. Mùa thu vừa qua, tôi sai bác ta một mình đi Cincinnati để giải
    quyết một việc cho tôi. Lần ấy bác ta phải mang về cho tôi năm trăm
    đô la. Trước khi bác ta đi, tôi bảo: "Tom, tôi tin ở bác, tôi tin bác là
    một con chiên ngoan đạo, bác chẳng bao giờ lừa dối tôi." Thế là Tom
    trở về, mang theo món tiền đúng như đã định trước. Hình như có
    những kẻ không tốt đã xui bác ta trốn sang Canada nhưng Tom không
    chịu nghe. Phải bán bác ta, tôi thật không vui chút nào ông Haley ạ,

    ông nên trừ tất cả món nợ của tôi mà lấy bác ta về, thế mới là có
    lương tâm.
    Gã con buôn đùa cợt trả lời:
    - Vâng, thì cần có bao nhiêu lương tâm trong việc buôn bán, tôi
    xin đưa ra cả. Vừa đủ để tuyên thệ, ngài hiểu đấy! Thường thường, tôi
    hay sẵn sàng giúp đỡ bạn bè. Nhưng ngài xem, trong việc này, như
    thế là đòi hỏi quá nhiều, thật thế.
    Hắn thở dài một cái, và lại tự rót cho mình một cốc rượu nữa.
    Sau một lát yên lặng lúng túng, ông Shelby hỏi:
    - Thế ông muốn ăn giá thế nào?
    - Ngài có thể thêm cho tôi một đứa bé trai hoặc gái, được không?
    - Ôi chà... Tôi chẳng có đứa trẻ nào để bán cho ông cả; bần cùng
    bất đắc dĩ, tôi mới phải bán nô lệ của tôi. Tôi không thích gì cái cảnh
    họ phải chia li.
    Cửa phòng mở, một chú bé lai da đen độ bốn, năm tuổi chạy vào.
    Chú bé xinh xắn lạ thường và rất dễ thương; những mớ tóc xoăn đen
    lánh, mịn như tơ, tỏa vòng tròn trên đôi má phình lúm đồng tiền;
    dưới hàng mi dài và cong, đôi mắt chú mênh mông, thăm thẳm vừa
    long lanh, vừa dịu hiền; chú tò mò nhìn xem người ta làm gì trong
    phòng khách. Bộ quần áo bằng vải kẻ ô đỏ và vàng, đường kim mũi
    chỉ khéo léo, rất ăn khớp với vẻ xinh xắn của chú bé da đen. Cái vẻ
    vừa tự tin một cách ngộ nghĩnh, vừa rụt rè của chú, chứng tỏ ông chủ
    thường hay nuông chiều và săn sóc đến chú. Ông Shelby ra lệnh:
    - Chú Qua Jim, chào!
    Ông lấy một chùm nho ở một cái đĩa quăng cho chú bé, rồi ông
    huýt sáo miệng như gọi một con chó con, bảo chú:
    - Này, cho mày, bắt lấy.
    Đôi chân ngắn ngủn chạy hết tốc lực, chú bé bắt lấy chùm nho,
    ông chủ vừa cười vừa bảo chú bé leo lên đùi mình. Ông vuốt ve mớ
    tóc xoăn, bấu cằm chú và ra lệnh:

    - Chú Quạ con này, bây giờ chú khoe với ông khách là chú biết
    múa, biết hát đi nào!
    Chú bé cất tiếng ca một điệu hát lạ lùng của những người da đen.
    Giọng chú trong và êm ái. Chú vừa hát vừa múa chân, múa tay, người
    chú uốn éo nhịp nhàng theo điệu bài ca.
    Haley vứt cho chú bé một miếng cam, miệng khen:
    -Hay!
    Ông chủ lại ra lệnh:
    - Chú Qua Jim, bây giờ chú thử bắt chước bác Cudjoe khi bác đi
    thấp khớp xem nào!
    Tức thì chú bé khòm khòm đôi chân, lưng còng xuống, tay chống
    chiếc gậy của ông chủ, khập khiễng đi trong phòng, mặt co rúm lại vì
    đau đớn, nhổ toẹt sang bên phải, sang bên trái, giống hệt một ông cụ
    già.
    Hai người phá lên cười.
    - Bây giờ chú giả làm cụ Robbins hát bài hát kinh Thánh xem nào.
    Cái mặt phình phính của chú bé bỗng dài thuỗn ra, và chú bé lấy
    giọng mũi ca một bài Thánh ca, vẻ hết sức nghiêm trang. Haley khoái
    quá, vỗ tay khen:
    - Hay, hay tuyệt! Thằng bé mới tuyệt làm sao! Kì diệu thật!
    Hắn lấy tay đập vào vai ông Shelby, reo lên:
    - Này ngài, nếu ngài để cho tôi thằng bé, thì công việc coi như
    xong. Ngài thấy đấy, tôi là người biết nhân nhượng.
    Cùng lúc đó, cánh cửa từ từ mở, một thiếu phụ lai da đen, chừng
    hai mươi lăm tuổi, bước vào. Thoạt trông thấy cũng biết chị là mẹ của
    chú bé. Cũng con mắt ấy, cũng hàng mi dài ấy, cũng những mớ tóc
    xoăn mịn như tơ ấy. Đôi má màu nâu nhạt bỗng đỏ ủng lên, khi chị
    thấy con mắt láo xược của người khách lạ trâng tráo chằm chằm nhìn

    chị. Chiếc áo cắt chẽn làm nổi tấm thân của chị; toàn thân chị từ hai
    bàn tay đến đôi mắt cá chân xinh xinh không thoát khỏi con mắt của
    gã tay buôn đã quen đánh giá món hàng phụ nữ bằng một cái liếc mắt
    nhìn qua.
    Thấy chị dừng lại, rồi nhìn mình một cách rụt rè, ông Shelby cất
    tiếng hỏi:
    - Cái gì thế, Eliza?
    Chị xin lỗi:
    - Xin lỗi ông, cháu tìm cháu bé Harry.
    Tức khắc, chú bé chạy đến bên chị; chú khoe với mẹ mấy món quà
    chú đựng trong vạt áo. Ông Shelby gật đầu:
    - Chị đưa nó về được đấy.
    Eliza vội vàng ôm lấy chú bé, bế đi.
    Gã con buôn nói khẽ:
    - Mẹ kiếp! Con bé mới đẹp làm sao! Ở New Orleans thì có thể làm
    giàu với cái của ấy. Tôi đã từng thấy những đứa không xinh bằng mà
    người ta dám trả tới trên một nghìn đô la.
    Ông Shelby lạnh lùng đáp:
    - Tôi không ưa làm giàu bằng cách buôn bán con người.
    Ông mở một chai rượu mới và hỏi ý kiến gã con buôn, cốt để
    đánh lảng câu chuyện. Nhưng sau khi gã tuyên bố là rượu ngon hảo
    hạng, gã đập bàn tay nặng trình trịch của gã lên vai ông chủ nhà và
    hỏi, giọng sỗ sàng:
    - Nào, ngài lấy bao nhiêu? Ngài định giá đi!
    - Tôi không bán chị ta. Nhà tôi không muốn phải xa chị ta, dù
    được một đống vàng nặng bằng chị ta.

    - Úi chà, đàn bà thì bao giờ cũng giọng ấy, bởi vì họ có biết tính
    toán gì đâu; nhưng cứ việc bảo cho họ biết với số vàng ấy, họ sẽ có
    bao nhiêu đồng hồ, bao nhiêu bút máy và bao nhiêu những đồ linh
    tinh khác, thì họ thay đổi ý kiến ngay đấy mà.
    Ông Shelby nói quả quyết:
    - Tôi nhắc lại là câu chuyện không phải như thế. Tôi đã bảo không
    là không.
    - Nhưng thế nào ngài cũng để cho tôi thằng bé con, được nó thì
    tôi thôi không đòi hỏi thêm nữa.
    Ông Shelby ngạc nhiên:
    - Ông lấy thằng bé để làm cái quái gì kia chứ?
    Haley trả lời:
    - Tôi có một thằng bạn chuyên cái nghề này. Nó mua những đứa
    trẻ kháu kỉnh, nuôi nấng rồi ném ra thị trường. Những của lạ mà! Nó
    bán cho nhà giàu. Bọn này thích có những đứa trẻ kháu khỉnh hầu hạ
    khi ăn uống, có khi dùng làm trẻ mở cửa, có khi dùng làm kẻ hầu hạ
    nơi phòng ngủ. Ngài xem, một món hời đấy. Tụi trẻ con giá đắt ra
    phết, cái thằng nhóc của ngài hóm hỉnh, lại hát hay, pha trò cừ, thật là
    một món bở.
    Ông Shelby nghĩ ngợi, khẽ nói:
    - Tôi cũng chẳng muốn bán nó làm gì. Ông biết, tôi rất thương
    người, tôi chẳng hề ưa thích cướp nó đi trong tay mẹ nó.
    - Hử? Tôi cũng hiểu tấm lòng của ngài đấy. Giây với bọn đàn bà
    lắm khi rầy rà ra trò. Thấy họ kêu khóc, tôi đến phát kinh. Thưa ngài,
    thường thì tôi cũng tránh được. Ngài cứ việc cho người mẹ đi biệt
    một nơi nào khác, một hai ngày, hay ngay cả một tuần lễ nữa. Thế là
    khi nó trở về, mọi việc đều xong xuôi cả. Bà nhà ta sẽ mua cho nó một
    đôi hoa tai, hay may cho nó một cái áo mới để nó khuây khỏa, thế là
    xong tuốt.
    - Tôi e rằng không xong được.

    - Xong chứ! Trời đất ơi! Tôi quả quyết với ngài rằng bọn chúng
    nó không như người da trắng chúng ta đâu, miễn là ta biết cách khéo
    xử.
    Rồi ra vẻ thân tình, Haley nói thêm, giọng chân thành:
    - Người ta thường nghĩ cái nghề của tôi làm cho trái tim chai
    cứng lại, nhưng xin ngài tin rằng tôi không phải hạng người như thế.
    Tôi biết có những kẻ đang tâm giằng lấy đứa con trong tay người mẹ,
    rồi bán đứa bé ngay trước mặt chị ta, trong khi chị ta khóc thét lên
    như một con điên. Thưa ngài, cái lối ấy thật là dở; như thế chỉ tổ làm
    hỏng món hàng của mình, có khi lại chẳng dùng được việc gì nữa. Ở
    New Orleans, tôi biết một con bé rất xinh, nhưng vì làm cách đó, nên
    hỏng bét cả. Chả là có một gã muốn mua con bé đó, nhưng lại cóc cần
    gì đến đứa con của nó: con bé cứ ôm ghì lấy đứa con trong lòng mà
    phản kháng và la hét kinh khủng. Tôi lạnh buốt xương sống. Khi đứa
    con bị lôi đi rồi, phải nhốt con bé kia lại, thế là chỉ trong tám ngày nó
    ngoẻo. Thưa ngài, lãng phí bao nhiêu! Một ngàn đô la, mất toi. Kinh
    nghiệm dạy cho tôi phải hành động một cách nhân đạo.
    Gã con buôn lấy vẻ đạo đức ngả người xuống lưng ghế, hai tay
    khoanh trước ngực. Hẳn là hắn ta tự coi mình như một người tu
    nhân tích đức, một vị Wilberforce[2] thứ hai.
    Ông Shelby gọt một quả cam, vẻ trầm tư. Haley đang say sưa với
    câu chuyện của mình; thấy cần phải nói thêm, hắn tiếp:
    - Tôi biết là tự mình khoe mình thì chẳng hay ho gì, nhưng tôi vẫn
    được cái tiếng là đưa ra thị trường những món hàng da đen tốt nhất;
    bọn da đen của tôi béo mẫm, được ăn uống đầy đủ, thành thử chúng
    bị hao hụt rất ít. Thưa ngài, đó là cách làm ăn của tôi; cách làm ăn ấy
    dựa trên cơ sở lòng nhân đạo. Tôi là một người tốt bụng.
    Hắn im lặng, còn ông Shelby thì không biết nói gì thêm, ông khẽ
    bảo:
    - Thật thế à?
    - Thưa ngài, người ta thường giễu tôi. Còn có người trách tôi nữa
    là khác. Tôi biết đó là những ý nghĩ không bình dân lắm; mà ý nghĩ
    ấy, không phải ai cũng có nhưng tôi kiên quyết giữ vững ý mình. Và

    tôi đã thành công. Tôi lãi to, tôi cam đoan với ngài như vậy. Những ý
    nghĩ của tôi đưa tôi đi đây đi đó, và đã thu được những món lời lớn. Hắn vừa kết luận như vậy, vừa cười cái câu pha trò của hắn.
    Cái lối quan niệm lòng nhân ái đối với con người như vậy có một
    cái gì thật đặc biệt và thú vị, khiến ông Shelby phải bật cười. Đúng
    thế, có khi tình cảm của con người có những dạng hết sức kì cục, và
    sự điên rồ cùng với sự phi lí của con người thật không bờ bến. Thấy
    ông chủ nhà cười, gã con buôn phấn khởi nói tiếp:
    - Có điều lạ lùng, là tôi không sao làm cho ý nghĩ của tôi thấm
    được vào đầu óc những kẻ khác. Lấy thí dụ một tay trước đây có hùn
    vốn với tôi, thằng Tom Loker, ở Natchez. Thằng cha thông minh,
    nhưng đối với bọn da đen, nó tàn bạo kinh khủng. Đó chỉ là vì nguyên
    tắc của nó, chứ, thưa ngài, xét đến cùng, ở trên đời này, chẳng ai tốt
    bằng nó; nó lành như cục đất. Tôi thường trách nó mà bảo: "Tom,
    những con bé của mày rống lên như ngựa, mày đánh chúng nó phỏng
    ích lợi gì? Thật là dại, và hoàn toàn vô ích, chỉ tổ chúng nó ốm và
    chính mày hủy hoại chúng nó, làm cho chúng nó xấu đi, nhất là
    những đứa có nước da sáng sủa, như vậy mày làm sao mà bán đi
    được? Tại sao không nói với chúng nó ôn tồn hơn? Tom ạ, một chút ít
    lòng nhân đạo lại có tác dụng hơn những câu chửi rủa và những roi
    vọt của mày kia đấy. - Tôi bảo nó thế. - Và như vậy, chắc chắn mày sẽ
    lãi gấp bội..." Nhưng thằng Tom Loker nào có nghe. Cuối cùng, tôi
    phải bỏ cánh với nó, nó hủy hoại nhiều con gái da đen quá. Tuy vậy
    nó là một con người hảo tâm, sòng phẳng trong việc buôn bán.
    - Ông coi cách làm ăn của ông tốt hơn cách làm ăn của người bạn
    hùn vốn với ông ư?
    - Thưa ngài, dĩ nhiên. Mỗi khi có thể, tôi đều cố gắng làm cho
    công việc được êm đẹp, chẳng hạn bán trẻ con. Tôi tìm cách làm cho
    người mẹ không trông thấy, khuất mắt thì còn xót xa gì, có phải thế
    không? Quả vậy, về sau họ cũng khuây đi. Họ có như người da trắng
    đâu. Bởi vì, đối với chúng ta, về vấn đề gia đình đoàn tụ, người ta đã
    nhồi nhét vào đầu óc chúng ta thôi thì đủ mọi tư tưởng, để giáo dục
    chúng ta. Một thằng da đen được dạy bảo đúng đắn phải là đứa không
    bao giờ được nuôi một hi vọng gì, trong bất cứ lĩnh vực nào.
    Ong Shelby mỉm cười:

    - Nếu quả thật như vậy, thì tôi e rằng tôi đã dạy bảo sai trái những
    người da đen của tôi.
    - Có thể như vậy, các ngài, các ngài ở bang Kentucky, quá nuông
    chiều bọn da đen. Ý định của các ngài thì tốt đấy, nhưng cuối cùng, đó
    không phải là lòng tốt thật sự. Số phận của một thằng da đen là phải
    lăn lóc đầu trời cuối đất, là phải bán đi bán lại vào tay anh Ba, anh Tư.
    Cứ tống vào đầu óc nó cái khái niệm hi vọng thì chẳng phải là giúp ích
    cho nó, bởi vì sau đó, nó thấy cuộc đời hắc búa với nó quá. Tôi tin
    chắc rằng nếu mang những thằng da đen của ngài vào một trong
    những cái đồn điền mà những đứa khác từ đời xửa đời xưa vẫn vừa
    làm việc vừa ca hát được, thì chúng nó sẽ chết vì tuyệt vọng mất. Mỗi
    người đều tin vào cách hành động của mình là tốt hơn cả, nhưng tôi
    cho rằng phải đối đãi với bọn da đen cho xứng với địa vị của chúng
    nó.
    Ông Shelby nhún vai để che giấu một cái rùng mình, ông nói:
    - Tự mình bằng lòng mình cũng là một điều hay.
    Sau một lát yên lặng, hai bên đều nghiền ngẫm ý nghĩ riêng của
    mình, Haley tiếp:
    - Thế nào, ngài định thế nào?
    Ông Shelby do dự đáp:
    - Tôi còn phải suy nghĩ và nói chuyện với nhà tôi. Ông Haley ạ,
    trong khi chờ đợi, nếu ông muốn công việc được êm ả, như chính ông
    đã khuyên tôi, xin ông đừng nói gì cho chung quanh biết. Nếu những
    người nô lệ của tôi biết thì ông khó lòng mà lôi đi được một người
    trong bọn họ, xin nói chắc với ông như thế.
    - Tất nhiên, tất nhiên im lặng là vàng. Song, tôi cần phải đi gấp,
    xin ngài trả lời nhanh nhanh cho, để tôi còn liệu tính toán công việc, gã con buôn nhấn mạnh như vậy.
    Hắn đứng dậy, mặc áo choàng và cúi đầu chào. Ông Shelby đưa
    hắn ra đến cửa, nói:
    - Ông trở lại quãng từ sáu giờ đến bảy giờ, tôi sẽ trả lời ông.

    Cánh cửa khép lại, ông chủ nhà nghĩ giá ông đá được gã kia lăn
    quay xuống cầu thang thì tốt! Quân vô lại láo xược! Nó biết là nó đã
    tóm được yết hầu của mình... Giả thử trước đây ít lâu, có ai bảo mình
    là mình sẽ phải bán Tom cho cái quân con buôn tồi tệ này để nó đưa
    xuống miền Nam thì mình sẽ trả lời: "Anh đày tớ của tôi có phải là
    một con chó đâu mà anh nỡ đối xử như thế?" Thế nhưng, việc đành
    phải như vậy, mình không thấy có cách giải quyết nào khác. Còn đứa
    con của Eliza nữa... Hẳn là vợ mình sẽ làm rầy rà mình, cả về vấn đề
    Tom nữa. Đấy, mang công mắc nợ thì như thế đấy. Thằng cha kia đã
    thấy cái thế có lợi cho nó, hẳn nó sẽ làm già đến cùng."
    Chắc hẳn là ở bang Kentucky, chế độ nô lệ ít hà khắc hơn. Ở cái
    xứ nông nghiệp thanh bình ấy, chẳng có ngày mùa làm gấp kịch liệt
    như ở miền Nam. Công việc của người da đen lành mạnh hơn, mà
    cũng vừa phải hơn. Ở đây, người chủ bằng lòng với số lời phải chăng
    và đều đặn. Họ không hề nghĩ tới khai thác nhân công một cách tàn
    bạo, độc địa như những người chủ ở miền Nam mù quáng vì miếng
    mồi muốn vồ cho nhanh, bằng cách bóc lột những kẻ yếu thế không
    người che chở.
    Những ai đã từng đến thăm những đồn điền vùng Kentucky nhận
    xét thấy lòng rộng lượng của một số người chủ đồn điền và sự tận
    tâm dễ thương của một số người nô lệ, sẽ dễ xiêu lòng nhìn nhận câu
    chuyện nên thơ về chế độ gia trưởng. Nhưng có điều bất hạnh là có
    một bóng đen to lớn phủ lên bức tranh thơ mộng ấy: đó là cái bóng
    đen của pháp luật. Chừng nào pháp luật còn coi những con người ấy,
    những con người có một trái tim nóng hổi và đầy xúc cảm như trái
    tim của chúng ta, là những đồ vật thuộc về một người chủ; chừng nào
    một sự thất bại, một tai họa, một hành động dại dột hay cái chết của
    một ông chủ hảo tâm còn có thể bó buộc những con người kia phải
    đánh đổi cuộc đời đang được che chở lấy một cuộc đời khốn cùng, lao
    động cực nhục, thì chế độ nô lệ không thể được coi là một chế độ
    đáng ước ao hay tốt đẹp được, dù chế độ ấy có tổ chức chặt chẽ và áp
    dụng đúng đắn đến đâu.
    Ông Shelby là một người chân thực, có tấm lòng nhân hậu, vốn
    lại độ lượng với những người xung quanh. Trong trại của ông bao giờ
    ông cũng chú ý săn sóc đến đời sống vật chất của những người da
    đen. Nhưng chẳng may, ông lao vào những hoạt động tích trữ dại dột,
    khiến ông mang công mắc nợ lớn. Chứng từ những món nợ ấy lại rơi
    vào tay Haley; bởi vậy mới có câu chuyện trao đổi giữa hai người, đã

    thuật lại bên trên.
    Câu chuyện đó, Eliza nấp sau cánh cửa, đã lõm bõm nghe đủ để
    hiểu rằng có một tên con buôn muốn mua một người nô lệ của ông
    chủ chị. Lúc ở phòng đi ra, chị có ý định nán lại nghe tiếp, nhưng có
    tiếng bà chủ gọi, nên bất đắc dĩ phải bỏ đi. Thế nhưng hình như chị
    nghe thấy gã con buôn kia nói muốn đứa con trai của chị. Chị có nghe
    lầm không? Tim chị đập thình thịch, chị xúc động ghì chặt con vào
    lòng, khiến đứa bé ngước con mắt ngạc nhiên nhìn chị.
    Bà chủ hỏi chị:
    - Hôm nay con làm sao thế?
    Eliza hết đánh đổ thau nước, lại đánh rơi rổ may vá; rồi bây giờ,
    đáng lẽ phải đưa cho bà chủ chiếc áo lụa lấy trong tủ ra, chị lại đưa
    một chiếc áo ngủ.
    Eliza rùng mình, ngước mắt nhìn lên, bật lên tiếng khóc, rồi ngã
    xuống một chiếc ghế bành. chị rên rỉ:
    - Bà ơi! Cháu nghe thấy có người lái buôn nói chuyện với ông
    cháu trong phòng khách.
    - Con bé dở hơi này, thế rồi sao nữa?
    - Thưa bà, bà có nghĩ là ông cháu định bán cháu bé Harry không ạ
    ?
    - Bán thằng Harry! Không đời nào! Mày nên biết là ông chủ
    không bao giờ giao dịch với bọn con buôn miền Nam, mà cũng không
    bao giờ nghĩ đến chuyện bán kẻ ăn người làm, nếu chúng mày còn ăn
    ở cho phải đạo. Với lại, ai lại nghĩ đến việc mua thằng Harry? Mày cứ
    tưởng ai cũng chăm chăm nhìn thằng Harry như mày đấy hẳn. Thôi,
    thôi, cứ bình tĩnh lại, cài khuy áo cho ta. Được rồi, bây giờ búi tóc cho
    ta như hôm nọ mày đã học búi đó, rồi, nhất là từ nay, chớ nấp ở cửa
    mà nghe lỏm nữa.
    - Thưa bà, vâng. Nhưng bà sẽ không bao giờ đồng ý như thế, có
    phải không ạ?

    - Mày dở hơi lắm! Hẳn là không, không bao giờ ta đồng ý. Bán
    thằng Harry thì cũng như bán đứa con ta đẻ ra. Thật tình mà nói,
    Eliza ạ, có thằng bé, mày đâm ra làm bộ làm tịch quá lắm. Động có
    người lái buôn đặt chân đến nhà, là mày tưởng người ta đến để mua
    con mày.
    Eliza yên trí, cười vì nỗi lo sợ vừa qua của mình. Chị sửa bộ áo
    cho bà chủ, khéo léo như thường ngày.
    Bà Shelby là một phụ nữ có phẩm chất hơn người. Vốn có một
    tấm lòng độ lượng như tất cả phụ nữ ở Kentucky, bà còn có thêm ý
    thức rất cao về đạo đức tôn giáo. Những nguyên tắc của bà, bà thực
    hiện nghiêm chỉnh, chồng bà chẳng theo một dòng đạo nào nhưng
    vẫn tôn trọng lòng tin đạo và những ý kiến của bà. Ông hoàn toàn để
    mặc bà làm mọi việc nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
    cho những người nô lệ.
    Sau câu chuyện trao đổi với Haley, ông Shelby thấy mình có
    nhiệm vụ phải cho vợ biết dự định thu xếp công việc của mình. Ông
    cũng có những lí lẽ để dự đoán rằng vợ ông sẽ phản đối kịch liệt.
    Bà Shelby chỉ hiểu chồng có một tấm lòng thương người, chứ
    không biết gì về sự dàn xếp công việc như trên của ông, nên bà rất
    chân thật khi tỏ ý không tin những lời ngờ vực của Eliza. Sự thật, bà
    chẳng chú ý đến việc ấy nữa; bà bận rộn sắm sửa để đi thăm bà con
    tối hôm ấy.

    2
    NGƯỜI MẸ

    E

    liza được bà chủ nuôi nấng nuông chiều; chị được bà thương
    yêu hơn cả. Những ai từng đi thăm miền Nam, ắt phải nhận
    thấy rằng những người phụ nữ lai da đen có những nét rất
    thanh, có giọng nói và dáng điệu dịu dàng. Ở những người phụ
    nữ lai một phần tư, cái duyên dáng tự nhiên ấy thường lại kết hợp với
    một vẻ đẹp lộng lẫy.
    Eliza được bà chủ che chở; chị đã lấy chồng, một thanh niên lai
    da đen thông minh; anh là nô lệ trong một đồn điền bên cạnh, tên anh
    là George.
    Chủ anh cho một nhà máy sản xuất bao tải mướn anh làm công
    nhân. Chàng thanh niên được coi là người thợ giỏi nhất nhà máy.
    Anh khéo léo, lại có tài; anh đã sáng chế được một cái máy tước vỏ
    cây gai. Với trình độ học thức ít ỏi, trong hoàn cảnh sinh sống khó
    khăn, quả đó là một tài năng về cơ khí chẳng kém gì Whitney đã hoàn
    thành cái máy lọc hạt bông của mình[3].
    George là một thanh niên đẹp trai, dáng điệu dễ thương; cả nhà
    máy yêu mến anh. Nhưng, dưới con mắt của pháp luật, người thanh
    niên ấy không phải là một con người, mà là một đồ vật, và tất cả
    những phẩm chất cao quý của anh đặt dưới quyền kiểm soát của chủ
    anh, một người tầm thường, độc đoán và thiển cận. Khi hắn ta nghe
    tin George phát minh được một cái máy, hắn đến nhà máy để xem cái
    đồ vật có trí óc ấy đã làm nên trò trống gì. Ông giám đốc niềm nở tiếp
    hắn và hoan nghênh hắn có được một người nô lệ đáng quý như vậy.
    Người ta dẫn hắn đến nhà máy và nghe George thuyết minh cái
    máy của mình. Giọng nói của anh hùng hồn, dáng điệu chững chạc,
    cử chỉ đường hoàng khiến tên chủ có cái cảm giác khó chịu, thấy kém
    anh về mọi mặt. Một thằng nô lệ của hắn có quyền gì mà lại có thể đi
    khắp đó đây, mặt thì vênh lên, và lại sáng chế máy móc nữa? Đã đến
    lúc phải chấm dứt đi thôi, phải lôi nó về nhà, bắt nó làm việc ruộng

    nương. Bởi vậy, ông giám đốc và tất cả thợ thuyền đều kinh ngạc khi
    nghe gã chủ nô lệ đòi tiền thuê anh George và báo tin là hắn muốn
    mang anh về.
    Ông giám đốc phản đối:
    - Kìa ông Harris, quyết định của ông hơi đột ngột phải không
    ông?
    - Đột ngột đã sao? Cái thằng ấy không thuộc về tôi sao?
    - Chúng tôi dự định tăng lương cho anh ta.
    - Thưa ông, vô ích. Tôi không hề bắt buộc phải cho thuê nô lệ của
    tôi khi tôi không muốn.
    - Nhưng, thưa ông, anh ta rất hợp với công việc nhà máy.
    - Tôi cũng tin như thế; nhưng ở nhà tôi, khi tôi bảo nó làm thì nó
    chẳng chịu khó tí nào.
    Một người thợ nói chen vào, không đúng chỗ:
    - Ông nên nghĩ là anh ấy đã sáng chế ra cái máy này.
    - Đúng. Một cái máy giúp nó tránh được việc lao động có phải
    không? Thật giống nó như hệt, bao giờ chẳng thế. Thằng da đen nào
    mà chẳng muốn trốn lao động. Sự thật, cái bọn da đen, đứa nào cũng
    là những cái máy tránh lao động. Không, tôi mang nó về.
    George đứng lặng người khi nghe bản án do một quyền lực độc
    đoán tuyên bố. Hai tay anh khoanh lại, môi mím chặt; anh thấy một
    sức phản kháng vùng dậy sôi sục trong lòng. Hơi thở dồn dập, đôi
    mắt đen lánh tóe ra những tia lửa. Nếu ông giám đốc không nắm lấy
    tay anh mà khẽ thì thầm bảo anh thì anh đã có những hành động
    phản kháng dại dột:
    - Anh George ạ, anh cứ để người ta làm gì thì làm; trước hết, cứ đi
    theo ông ta. Sau này, chúng tôi sẽ liệu đưa anh trở lại đây.
    Lời thì thầm ấy không qua được mắt gã độc đoán; hắn đoán biết

    được ý nghĩa của câu nói thầm, và điều đó chỉ làm cho hắn kiên quyết
    hơn.
    ...
     
    Gửi ý kiến