CÁC CA KHÚC KỈ NIỆM NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC
Túp lều Bác Tôm

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 08h:44' 17-11-2024
Dung lượng: 1.8 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 08h:44' 17-11-2024
Dung lượng: 1.8 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
LỜI NÓI ĐẦU
N
ước Mĩ mới được thành lập từ cuối thế kỉ XVIII, sau khi
đánh bại bọn thực dân Anh. Vừa ra đời, nó ra sức phát triển
công nghiệp, với ý đồ đuổi kịp và vượt các nước tư bản châu
Âu. Ngay từ đầu, tư bản Mĩ đã thấm đầy máu và mồ hôi của
nhân dân lao động, nhất là của những người nô lệ da đen. Đầu thế kỉ
XIX, kinh tế Mĩ phát triển mạnh, nhân công thiếu một cách nghiêm
trọng. Để có nhân công, bọn con buôn sang châu Phi, buôn những
người da đen; chúng xông vào các thành thị, thôn xóm châu Phi, lùa
từng đoàn người xuống tàu biển chở sang Mĩ làm nô lệ. Biết bao cảnh
đàn áp, đánh đập, giết tróc vô cùng tàn nhẫn. Chúng nhốt những
người da đen vào cũi dưới hầm tàu, đẩy họ lên đất Mĩ sống cuộc đời
nô lệ. Một số những người nô lệ ấy, phần nhớ quê hương đất nước,
gia đình làng mạc, phần bị hành hạ hết sức dã man, đã bỏ mình trên
đường tới nước Mĩ, và xác họ bị vứt xuống biển. Hàng vạn người đã
chịu số phận như thế. Những người sống sót bị bán ở các chợ bán nô
lệ nhan nhản trên thị trường Mĩ lúc bấy giờ. Họ bị xiềng xích, đánh
đập, vợ lìa chồng, cha bỏ con, cuộc đời đầy tủi nhục, oán hờn. Những
người nô lệ bị coi như đồ vật, những "đồ vật biết nói" không có chút
quyền mảy may; chủ nô lệ có đủ mọi quyền hành đối với họ như đối
với những đồ vật vô tri vô giác. Chúng tha hồ đánh đập, bán đi mua
lại, hoặc giết chết. Đó là một chế độ cực kì dã man, một vết nhơ trong
lịch sử nước Mĩ. Nhưng ở đâu có áp bức, ở đấy có đấu tranh. Những
người nô lệ da đen đã nhiều lần nổi dậy để tự giải phóng; nhưng họ bị
đàn áp khốc liệt, những cuộc nổi dậy bị nhấn chìm trong biển máu.
Đến giữa thế kỉ XIX, vì vấn đề chế độ nô lệ, nước Mĩ chia làm hai
miền chống đối nhau; một cuộc nội chiến gọi là "Bắc Nam phân
tranh" kéo dài 5 năm (1860 - 1865). Ở miền Bắc nước Mĩ, công
nghiệp phát triển mạnh mẽ cần nhiều công nhân có quyền tự do vào
làm các xưởng máy, do đó chủ trương xóa bỏ chế độ nô lệ để thu hút
nhân công từ ruộng đất vào xí nghiệp. Nhưng ở miền Nam nước Mĩ,
đất đai màu mỡ, việc trồng bông rất thuận tiện. Công nghiệp dệt lại
đòi hỏi nhiều bông. Nhu cầu về bông tăng lên vùn vụt. Bọn tư bản
miền Nam muốn giữ nhân công gắn chặt với ruộng đất của chúng, cố
sức duy trì chế độ nô lệ. Mâu thuẫn về quyền lợi của tư bản giữa hai
miền Nam - Bắc tăng lên. Đó là nguyên nhân xảy ra nội chiến ở Mĩ.
Từ năm 1840, ngay ở miền Nam nước Mĩ, có những người Mĩ có xu
hướng tiến bộ chủ trương giải phóng nô lệ. Họ đấu tranh lên báo chí,
trong nghị trường, đòi chính phủ phải hủy bỏ chế độ vô nhân đạo ấy.
Họ giúp người nô lệ da đen trốn khỏi địa ngục là những đồn điền
bông; ở đó người da đen bị ngược đãi hết sức dã man. Họ tổ chức
những chặng đường bí mật, những trạm đón tiếp nô lệ bỏ trốn, dẫn
sang Canada, là đất nước lúc bấy giờ không còn chế độ nô lệ (Canada
xóa bỏ chế độ nô lệ năm 1833). Đất Canada tượng trưng cho sự tự do
của những người nô lệ da đen ở Mĩ lúc bấy giờ. Hoàn cảnh ra đời của
tác phẩm "Túp lều bác Tom" là như thế.
Bà Harriet Beecher Stowe (1811 - 1896) - tác giả của quyển sách
này, sống ở bang Ohio, một bang ở sát miền Nam nước Mĩ, nơi chế
độ nô lệ tồn tại khốc liệt nhất. Bà đã mắt thấy tai nghe những cảnh
buôn bán nô lệ rất thương tâm; bà đã chứng kiến những cảnh lao
động khổ nhục của người nô lệ; bà đã thấy họ bị đày đọa, đánh đập
tàn nhẫn như thế nào; bà đã thấy bọn chủ nô dùng chó săn đuổi bắt,
cắn xé người nô lệ bỏ trốn, hoặc dùng súng đi săn bắt họ như săn bầy
thú rừng. Bà cũng đã thấy những cuộc đấu tranh của người da đen để
tự giải phóng, và đã viết nên tác phẩm "Túp lều bác Tom". Những
người Mĩ có xu hướng tiến bộ lúc ấy coi nô lệ da đen là những con
người cũng có tình thương yêu gia đình thắm thiết, cũng có một tâm
hồn phong phú, có trí thông minh tuyệt vời và có tinh thần đấu tranh
gan dạ. Họ đứng về phía tự do, bảo vệ quyền của con người, coi chế
độ nô lệ là một chế độ dã man cần xóa bỏ. "Túp lều bác Tom" đã
nói lên điều đó.
Tác phẩm kể cuộc đời thống khổ của một người nô lệ da đen là
bác Tom. Bác là một người trung thực, ngay thẳng, biết trọng danh
dự. Nhưng cuộc đời bác là một chuỗi ngày đen tối, đầy tủi nhục. Bác
phải lìa bỏ vợ con, bị bán từ nơi này qua nơi khác, bị đánh đập tàn
nhẫn. Cuối cùng, do bảo vệ nhân phẩm của mình, bác bị đánh chết
trong một đồn điền trồng bông khủng khiếp ở miền Nam nước Mĩ,
nơi chôn vùi bao nhiêu cuộc đời lầm than như cuộc đời bác. Tác
phẩm còn kể số phận của Eliza cùng đứa con, bỏ trốn đi. Đó là một
người mẹ đã hi sinh tất cả để cứu đứa con khỏi rơi vào tay một tên
buôn nô lệ tàn ác; đó là một người vợ tha thiết yêu chồng - một thanh
niên thông minh, đã sáng chế ra một cái máy tước sợi gai, mà cuộc
đời cũng bị đày đọa, trăm nghìn cay đắng.
"Túp lều bác Tom" ca ngợi những người nô lệ da đen là những
người trung thực, biết tôn trọng phẩm giá con người như bác Tom,
những người mẹ dũng cảm như Eliza, những thanh niên cương nghị,
tha thiết với tự do như George. Đồng thời, tác phẩm cũng lên án đanh
thép chế độ nô lệ nhan nhản những tên con buôn, những tên chủ nô
lệ cùng bọn tay sai vô cùng tàn bạo, bọn côn đồ chỉ biết tôn thờ tiền
vàng. Đồng tiền vàng làm chúng mất hết tính người. Pháp luật của
nhà nước Mĩ bênh vực chế độ nô lệ, cho phép chúng đánh đập xiềng
xích, giết chết những người da đen vô tội và trừng trị những ai che
chở người nô lệ.
Với tác phẩm của mình, nhà văn Stowe đã đóng góp một phần vào
công cuộc giải phóng nô lệ ở nước Mĩ; bà tố cáo thống thiết chế độ vô
nhân đạo ấy, khích lệ những người Mĩ có lương tâm đấu tranh để tiêu
diệt nó.
Đọc tác phẩm này, chúng ta cần chú ý đến hai con đường để thực
hiện lí tưởng tự do. Bác Tom sống một cuộc đời trong sạch, bác
thương yêu vô hạn những người cùng cảnh ngộ, bác dũng cảm chịu
chết chứ không chịu đánh một người nô lệ khác. Bác không đấu tranh
bạo lực, sợ đổ máu. Bác luôn luôn hướng về Chúa, nhưng Chúa không
hề bênh vực bác và những người khổ cực như bác. Tấm lòng nhân
đạo đưa bác đến cái chết thê thảm. Con đường thứ hai là con đường
mà Eliza, George đã đi. Phải vùng dậy, đấu tranh không khoan
nhượng với kẻ thù.
Bằng những lời lên án quyết liệt chế độ nô lệ, bằng những con
đường đấu tranh mà tác giả đã đề ra để tranh thủ mọi tầng lớp xã hội
khác nhau ở nước Mĩ lúc bấy giờ, bà Stowe được coi là "người phụ nữ
da trắng trẻ tuổi đã góp phần vào chiến thắng của lực lượng tiến bộ
đòi hủy bỏ chế độ nô lệ trong cuộc nội chiến."
Trong những năm hoạt động cách mạng thời trẻ tuổi, Bác Hồ đã
qua Mĩ và đọc "Túp lều bác Tom". Bác là người Việt Nam đầu tiên
lên án gay gắt chính sách phân biệt chủng tộc rất dã man của đế quốc
Mĩ ngay từ ngày ấy, trong nhiều bài báo đăng trên báo chí ở nước
Pháp.
Người dịch
1
BẠN ĐỌC LÀM QUEN VỚI MỘT
NGƯỜI BẠN TỐT BỤNG
S
ẩm tối một ngày giá lạnh tháng hai có hai người lịch sự ngồi
trong phòng ăn bày biện sang trọng tại một ngôi nhà ở thành
phố P - bang Kentucky. Một cốc rượu đặt trước mặt họ: hai
chiếc ghế bành kéo sát vào nhau; kẻ ăn người làm đã bị đuổi ra
khỏi phòng; hình như họ đang bàn luận với nhau một chuyện gì rất
quan trọng.
Xem xét họ kĩ hơn thì một người chẳng đáng được gọi là "người
lịch sự." Khổ người hắn ta thấp bé phè phè ngắn ngủn, nét mặt thô lỗ,
điệu bộ hợm hĩnh. Đúng là hắn ta thuộc loại những kẻ từ hai bàn tay
trắng đã huých kẻ nọ người kia để leo lên bậc thang xã hội. Hắn ăn
mặc lòe loẹt, bận một chiếc gi-lê sặc sỡ, choàng một cái khăn màu
xanh nhạt lốm đốm vàng trên cái cổ áo kiểu lãng mạn[1] Những ngón
tay xù xì đầy những nhẫn là nhẫn. Hắn đeo một chiếc dây đồng hồ
nặng trĩu những đồ trang sức bằng vàng; trong lúc hăng say trò
chuyện, hắn thích làm cho kêu leng keng. Hắn ăn nói cũng sỗ sàng
đúng như con người hắn; hắn hay chêm vào câu chuyện của mình lắm
tiếng chửi rủa tục tằn, dù có muốn tôn trọng sự thực đến đâu cũng
chẳng thể kể ra đây được.
Trái lại, ông chủ nhà, ông Shelby, thoáng nhìn cũng biết ngay là
một người lịch sự; ngay cách xếp đặt ngăn nắp và vẻ sang trọng kín
đáo của ngôi nhà cũng đủ chứng tỏ điều đó. Trong khi người khách
nâng cốc rượu lên, ông nói ý kiến của ông:
- Thế nhưng tôi tha thiết muốn giải quyết việc này.
Gã kia đáp:
- Không thể được, thưa ngài Shelby. Tôi không thể thỏa thuận
trên cơ sở này được.
Ông Shelby nhấn mạnh thêm:
- Tom là một người đặc biệt. Ông Haley ạ, bất kì ở đâu bác ta
cũng đáng cái giá ấy; bác ta đứng đắn, trung thực và có năng lực. Nhờ
bác ta, công việc ở trại của tôi chạy chính xác như một chiếc đồng hồ.
Haley mỉa mai hỏi lại:
- Trung thực à? Trung thực kiểu một thằng da đen!
Hắn nốc cạn cốc rượu, và không đợi mời, hắn rót thêm một cốc
nữa. Ông Shelby nói tiếp:
- Ông cứ tin ở tôi. Tom thật thà, lại rất biết điều và rất ngoan đạo.
Cách đây bốn năm, bác ta đã quy đạo. Tôi chắc rằng bác ta ngoan đạo
lắm! Tôi hoàn toàn tín nhiệm bác ta. Tiền bạc, nhà cửa, đàn ngựa, tôi
đều giao cho bác ta cả. Tôi để mặc bác ta được tự do đi lại trong vùng
này.
Haley dõng dạc nói:
- Thưa ngài Shelby, chẳng thiếu gì người không chịu tin bọn da
đen ngoan đạo. Nhưng tôi, thì tôi tin đấy - hắn ta vừa nói vừa để tay
lên ngực, vẻ thơ ngây giả dối tôi cũng có một thằng da đen ngoan đạo,
trong cái bọn da đen tôi đưa sang New Orleans chuyến trước. Cứ
nghe cái ngữ ấy cầu kinh thì y như nghe một bài giảng đạo. Bán nó,
tôi vớ được một món hời: lãi sáu trăm đô la đấy nhé, bởi vì tôi mua
của một anh chàng vỡ nợ, gần như chẳng mất đồng nào. Tôi rất đồng
ý với ngài: một thằng da đen ngoan đạo quả là một món khá đấy, nhất
là khi lòng tin của nó chân thành. Tất nhiên, phải thật sự như vậy.
Ông chủ nhà quả quyết:
- Tôi có thể cam đoan với ông rằng Tom chính là một người như
vậy. Mùa thu vừa qua, tôi sai bác ta một mình đi Cincinnati để giải
quyết một việc cho tôi. Lần ấy bác ta phải mang về cho tôi năm trăm
đô la. Trước khi bác ta đi, tôi bảo: "Tom, tôi tin ở bác, tôi tin bác là
một con chiên ngoan đạo, bác chẳng bao giờ lừa dối tôi." Thế là Tom
trở về, mang theo món tiền đúng như đã định trước. Hình như có
những kẻ không tốt đã xui bác ta trốn sang Canada nhưng Tom không
chịu nghe. Phải bán bác ta, tôi thật không vui chút nào ông Haley ạ,
ông nên trừ tất cả món nợ của tôi mà lấy bác ta về, thế mới là có
lương tâm.
Gã con buôn đùa cợt trả lời:
- Vâng, thì cần có bao nhiêu lương tâm trong việc buôn bán, tôi
xin đưa ra cả. Vừa đủ để tuyên thệ, ngài hiểu đấy! Thường thường, tôi
hay sẵn sàng giúp đỡ bạn bè. Nhưng ngài xem, trong việc này, như
thế là đòi hỏi quá nhiều, thật thế.
Hắn thở dài một cái, và lại tự rót cho mình một cốc rượu nữa.
Sau một lát yên lặng lúng túng, ông Shelby hỏi:
- Thế ông muốn ăn giá thế nào?
- Ngài có thể thêm cho tôi một đứa bé trai hoặc gái, được không?
- Ôi chà... Tôi chẳng có đứa trẻ nào để bán cho ông cả; bần cùng
bất đắc dĩ, tôi mới phải bán nô lệ của tôi. Tôi không thích gì cái cảnh
họ phải chia li.
Cửa phòng mở, một chú bé lai da đen độ bốn, năm tuổi chạy vào.
Chú bé xinh xắn lạ thường và rất dễ thương; những mớ tóc xoăn đen
lánh, mịn như tơ, tỏa vòng tròn trên đôi má phình lúm đồng tiền;
dưới hàng mi dài và cong, đôi mắt chú mênh mông, thăm thẳm vừa
long lanh, vừa dịu hiền; chú tò mò nhìn xem người ta làm gì trong
phòng khách. Bộ quần áo bằng vải kẻ ô đỏ và vàng, đường kim mũi
chỉ khéo léo, rất ăn khớp với vẻ xinh xắn của chú bé da đen. Cái vẻ
vừa tự tin một cách ngộ nghĩnh, vừa rụt rè của chú, chứng tỏ ông chủ
thường hay nuông chiều và săn sóc đến chú. Ông Shelby ra lệnh:
- Chú Qua Jim, chào!
Ông lấy một chùm nho ở một cái đĩa quăng cho chú bé, rồi ông
huýt sáo miệng như gọi một con chó con, bảo chú:
- Này, cho mày, bắt lấy.
Đôi chân ngắn ngủn chạy hết tốc lực, chú bé bắt lấy chùm nho,
ông chủ vừa cười vừa bảo chú bé leo lên đùi mình. Ông vuốt ve mớ
tóc xoăn, bấu cằm chú và ra lệnh:
- Chú Quạ con này, bây giờ chú khoe với ông khách là chú biết
múa, biết hát đi nào!
Chú bé cất tiếng ca một điệu hát lạ lùng của những người da đen.
Giọng chú trong và êm ái. Chú vừa hát vừa múa chân, múa tay, người
chú uốn éo nhịp nhàng theo điệu bài ca.
Haley vứt cho chú bé một miếng cam, miệng khen:
-Hay!
Ông chủ lại ra lệnh:
- Chú Qua Jim, bây giờ chú thử bắt chước bác Cudjoe khi bác đi
thấp khớp xem nào!
Tức thì chú bé khòm khòm đôi chân, lưng còng xuống, tay chống
chiếc gậy của ông chủ, khập khiễng đi trong phòng, mặt co rúm lại vì
đau đớn, nhổ toẹt sang bên phải, sang bên trái, giống hệt một ông cụ
già.
Hai người phá lên cười.
- Bây giờ chú giả làm cụ Robbins hát bài hát kinh Thánh xem nào.
Cái mặt phình phính của chú bé bỗng dài thuỗn ra, và chú bé lấy
giọng mũi ca một bài Thánh ca, vẻ hết sức nghiêm trang. Haley khoái
quá, vỗ tay khen:
- Hay, hay tuyệt! Thằng bé mới tuyệt làm sao! Kì diệu thật!
Hắn lấy tay đập vào vai ông Shelby, reo lên:
- Này ngài, nếu ngài để cho tôi thằng bé, thì công việc coi như
xong. Ngài thấy đấy, tôi là người biết nhân nhượng.
Cùng lúc đó, cánh cửa từ từ mở, một thiếu phụ lai da đen, chừng
hai mươi lăm tuổi, bước vào. Thoạt trông thấy cũng biết chị là mẹ của
chú bé. Cũng con mắt ấy, cũng hàng mi dài ấy, cũng những mớ tóc
xoăn mịn như tơ ấy. Đôi má màu nâu nhạt bỗng đỏ ủng lên, khi chị
thấy con mắt láo xược của người khách lạ trâng tráo chằm chằm nhìn
chị. Chiếc áo cắt chẽn làm nổi tấm thân của chị; toàn thân chị từ hai
bàn tay đến đôi mắt cá chân xinh xinh không thoát khỏi con mắt của
gã tay buôn đã quen đánh giá món hàng phụ nữ bằng một cái liếc mắt
nhìn qua.
Thấy chị dừng lại, rồi nhìn mình một cách rụt rè, ông Shelby cất
tiếng hỏi:
- Cái gì thế, Eliza?
Chị xin lỗi:
- Xin lỗi ông, cháu tìm cháu bé Harry.
Tức khắc, chú bé chạy đến bên chị; chú khoe với mẹ mấy món quà
chú đựng trong vạt áo. Ông Shelby gật đầu:
- Chị đưa nó về được đấy.
Eliza vội vàng ôm lấy chú bé, bế đi.
Gã con buôn nói khẽ:
- Mẹ kiếp! Con bé mới đẹp làm sao! Ở New Orleans thì có thể làm
giàu với cái của ấy. Tôi đã từng thấy những đứa không xinh bằng mà
người ta dám trả tới trên một nghìn đô la.
Ông Shelby lạnh lùng đáp:
- Tôi không ưa làm giàu bằng cách buôn bán con người.
Ông mở một chai rượu mới và hỏi ý kiến gã con buôn, cốt để
đánh lảng câu chuyện. Nhưng sau khi gã tuyên bố là rượu ngon hảo
hạng, gã đập bàn tay nặng trình trịch của gã lên vai ông chủ nhà và
hỏi, giọng sỗ sàng:
- Nào, ngài lấy bao nhiêu? Ngài định giá đi!
- Tôi không bán chị ta. Nhà tôi không muốn phải xa chị ta, dù
được một đống vàng nặng bằng chị ta.
- Úi chà, đàn bà thì bao giờ cũng giọng ấy, bởi vì họ có biết tính
toán gì đâu; nhưng cứ việc bảo cho họ biết với số vàng ấy, họ sẽ có
bao nhiêu đồng hồ, bao nhiêu bút máy và bao nhiêu những đồ linh
tinh khác, thì họ thay đổi ý kiến ngay đấy mà.
Ông Shelby nói quả quyết:
- Tôi nhắc lại là câu chuyện không phải như thế. Tôi đã bảo không
là không.
- Nhưng thế nào ngài cũng để cho tôi thằng bé con, được nó thì
tôi thôi không đòi hỏi thêm nữa.
Ông Shelby ngạc nhiên:
- Ông lấy thằng bé để làm cái quái gì kia chứ?
Haley trả lời:
- Tôi có một thằng bạn chuyên cái nghề này. Nó mua những đứa
trẻ kháu kỉnh, nuôi nấng rồi ném ra thị trường. Những của lạ mà! Nó
bán cho nhà giàu. Bọn này thích có những đứa trẻ kháu khỉnh hầu hạ
khi ăn uống, có khi dùng làm trẻ mở cửa, có khi dùng làm kẻ hầu hạ
nơi phòng ngủ. Ngài xem, một món hời đấy. Tụi trẻ con giá đắt ra
phết, cái thằng nhóc của ngài hóm hỉnh, lại hát hay, pha trò cừ, thật là
một món bở.
Ông Shelby nghĩ ngợi, khẽ nói:
- Tôi cũng chẳng muốn bán nó làm gì. Ông biết, tôi rất thương
người, tôi chẳng hề ưa thích cướp nó đi trong tay mẹ nó.
- Hử? Tôi cũng hiểu tấm lòng của ngài đấy. Giây với bọn đàn bà
lắm khi rầy rà ra trò. Thấy họ kêu khóc, tôi đến phát kinh. Thưa ngài,
thường thì tôi cũng tránh được. Ngài cứ việc cho người mẹ đi biệt
một nơi nào khác, một hai ngày, hay ngay cả một tuần lễ nữa. Thế là
khi nó trở về, mọi việc đều xong xuôi cả. Bà nhà ta sẽ mua cho nó một
đôi hoa tai, hay may cho nó một cái áo mới để nó khuây khỏa, thế là
xong tuốt.
- Tôi e rằng không xong được.
- Xong chứ! Trời đất ơi! Tôi quả quyết với ngài rằng bọn chúng
nó không như người da trắng chúng ta đâu, miễn là ta biết cách khéo
xử.
Rồi ra vẻ thân tình, Haley nói thêm, giọng chân thành:
- Người ta thường nghĩ cái nghề của tôi làm cho trái tim chai
cứng lại, nhưng xin ngài tin rằng tôi không phải hạng người như thế.
Tôi biết có những kẻ đang tâm giằng lấy đứa con trong tay người mẹ,
rồi bán đứa bé ngay trước mặt chị ta, trong khi chị ta khóc thét lên
như một con điên. Thưa ngài, cái lối ấy thật là dở; như thế chỉ tổ làm
hỏng món hàng của mình, có khi lại chẳng dùng được việc gì nữa. Ở
New Orleans, tôi biết một con bé rất xinh, nhưng vì làm cách đó, nên
hỏng bét cả. Chả là có một gã muốn mua con bé đó, nhưng lại cóc cần
gì đến đứa con của nó: con bé cứ ôm ghì lấy đứa con trong lòng mà
phản kháng và la hét kinh khủng. Tôi lạnh buốt xương sống. Khi đứa
con bị lôi đi rồi, phải nhốt con bé kia lại, thế là chỉ trong tám ngày nó
ngoẻo. Thưa ngài, lãng phí bao nhiêu! Một ngàn đô la, mất toi. Kinh
nghiệm dạy cho tôi phải hành động một cách nhân đạo.
Gã con buôn lấy vẻ đạo đức ngả người xuống lưng ghế, hai tay
khoanh trước ngực. Hẳn là hắn ta tự coi mình như một người tu
nhân tích đức, một vị Wilberforce[2] thứ hai.
Ông Shelby gọt một quả cam, vẻ trầm tư. Haley đang say sưa với
câu chuyện của mình; thấy cần phải nói thêm, hắn tiếp:
- Tôi biết là tự mình khoe mình thì chẳng hay ho gì, nhưng tôi vẫn
được cái tiếng là đưa ra thị trường những món hàng da đen tốt nhất;
bọn da đen của tôi béo mẫm, được ăn uống đầy đủ, thành thử chúng
bị hao hụt rất ít. Thưa ngài, đó là cách làm ăn của tôi; cách làm ăn ấy
dựa trên cơ sở lòng nhân đạo. Tôi là một người tốt bụng.
Hắn im lặng, còn ông Shelby thì không biết nói gì thêm, ông khẽ
bảo:
- Thật thế à?
- Thưa ngài, người ta thường giễu tôi. Còn có người trách tôi nữa
là khác. Tôi biết đó là những ý nghĩ không bình dân lắm; mà ý nghĩ
ấy, không phải ai cũng có nhưng tôi kiên quyết giữ vững ý mình. Và
tôi đã thành công. Tôi lãi to, tôi cam đoan với ngài như vậy. Những ý
nghĩ của tôi đưa tôi đi đây đi đó, và đã thu được những món lời lớn. Hắn vừa kết luận như vậy, vừa cười cái câu pha trò của hắn.
Cái lối quan niệm lòng nhân ái đối với con người như vậy có một
cái gì thật đặc biệt và thú vị, khiến ông Shelby phải bật cười. Đúng
thế, có khi tình cảm của con người có những dạng hết sức kì cục, và
sự điên rồ cùng với sự phi lí của con người thật không bờ bến. Thấy
ông chủ nhà cười, gã con buôn phấn khởi nói tiếp:
- Có điều lạ lùng, là tôi không sao làm cho ý nghĩ của tôi thấm
được vào đầu óc những kẻ khác. Lấy thí dụ một tay trước đây có hùn
vốn với tôi, thằng Tom Loker, ở Natchez. Thằng cha thông minh,
nhưng đối với bọn da đen, nó tàn bạo kinh khủng. Đó chỉ là vì nguyên
tắc của nó, chứ, thưa ngài, xét đến cùng, ở trên đời này, chẳng ai tốt
bằng nó; nó lành như cục đất. Tôi thường trách nó mà bảo: "Tom,
những con bé của mày rống lên như ngựa, mày đánh chúng nó phỏng
ích lợi gì? Thật là dại, và hoàn toàn vô ích, chỉ tổ chúng nó ốm và
chính mày hủy hoại chúng nó, làm cho chúng nó xấu đi, nhất là
những đứa có nước da sáng sủa, như vậy mày làm sao mà bán đi
được? Tại sao không nói với chúng nó ôn tồn hơn? Tom ạ, một chút ít
lòng nhân đạo lại có tác dụng hơn những câu chửi rủa và những roi
vọt của mày kia đấy. - Tôi bảo nó thế. - Và như vậy, chắc chắn mày sẽ
lãi gấp bội..." Nhưng thằng Tom Loker nào có nghe. Cuối cùng, tôi
phải bỏ cánh với nó, nó hủy hoại nhiều con gái da đen quá. Tuy vậy
nó là một con người hảo tâm, sòng phẳng trong việc buôn bán.
- Ông coi cách làm ăn của ông tốt hơn cách làm ăn của người bạn
hùn vốn với ông ư?
- Thưa ngài, dĩ nhiên. Mỗi khi có thể, tôi đều cố gắng làm cho
công việc được êm đẹp, chẳng hạn bán trẻ con. Tôi tìm cách làm cho
người mẹ không trông thấy, khuất mắt thì còn xót xa gì, có phải thế
không? Quả vậy, về sau họ cũng khuây đi. Họ có như người da trắng
đâu. Bởi vì, đối với chúng ta, về vấn đề gia đình đoàn tụ, người ta đã
nhồi nhét vào đầu óc chúng ta thôi thì đủ mọi tư tưởng, để giáo dục
chúng ta. Một thằng da đen được dạy bảo đúng đắn phải là đứa không
bao giờ được nuôi một hi vọng gì, trong bất cứ lĩnh vực nào.
Ong Shelby mỉm cười:
- Nếu quả thật như vậy, thì tôi e rằng tôi đã dạy bảo sai trái những
người da đen của tôi.
- Có thể như vậy, các ngài, các ngài ở bang Kentucky, quá nuông
chiều bọn da đen. Ý định của các ngài thì tốt đấy, nhưng cuối cùng, đó
không phải là lòng tốt thật sự. Số phận của một thằng da đen là phải
lăn lóc đầu trời cuối đất, là phải bán đi bán lại vào tay anh Ba, anh Tư.
Cứ tống vào đầu óc nó cái khái niệm hi vọng thì chẳng phải là giúp ích
cho nó, bởi vì sau đó, nó thấy cuộc đời hắc búa với nó quá. Tôi tin
chắc rằng nếu mang những thằng da đen của ngài vào một trong
những cái đồn điền mà những đứa khác từ đời xửa đời xưa vẫn vừa
làm việc vừa ca hát được, thì chúng nó sẽ chết vì tuyệt vọng mất. Mỗi
người đều tin vào cách hành động của mình là tốt hơn cả, nhưng tôi
cho rằng phải đối đãi với bọn da đen cho xứng với địa vị của chúng
nó.
Ông Shelby nhún vai để che giấu một cái rùng mình, ông nói:
- Tự mình bằng lòng mình cũng là một điều hay.
Sau một lát yên lặng, hai bên đều nghiền ngẫm ý nghĩ riêng của
mình, Haley tiếp:
- Thế nào, ngài định thế nào?
Ông Shelby do dự đáp:
- Tôi còn phải suy nghĩ và nói chuyện với nhà tôi. Ông Haley ạ,
trong khi chờ đợi, nếu ông muốn công việc được êm ả, như chính ông
đã khuyên tôi, xin ông đừng nói gì cho chung quanh biết. Nếu những
người nô lệ của tôi biết thì ông khó lòng mà lôi đi được một người
trong bọn họ, xin nói chắc với ông như thế.
- Tất nhiên, tất nhiên im lặng là vàng. Song, tôi cần phải đi gấp,
xin ngài trả lời nhanh nhanh cho, để tôi còn liệu tính toán công việc, gã con buôn nhấn mạnh như vậy.
Hắn đứng dậy, mặc áo choàng và cúi đầu chào. Ông Shelby đưa
hắn ra đến cửa, nói:
- Ông trở lại quãng từ sáu giờ đến bảy giờ, tôi sẽ trả lời ông.
Cánh cửa khép lại, ông chủ nhà nghĩ giá ông đá được gã kia lăn
quay xuống cầu thang thì tốt! Quân vô lại láo xược! Nó biết là nó đã
tóm được yết hầu của mình... Giả thử trước đây ít lâu, có ai bảo mình
là mình sẽ phải bán Tom cho cái quân con buôn tồi tệ này để nó đưa
xuống miền Nam thì mình sẽ trả lời: "Anh đày tớ của tôi có phải là
một con chó đâu mà anh nỡ đối xử như thế?" Thế nhưng, việc đành
phải như vậy, mình không thấy có cách giải quyết nào khác. Còn đứa
con của Eliza nữa... Hẳn là vợ mình sẽ làm rầy rà mình, cả về vấn đề
Tom nữa. Đấy, mang công mắc nợ thì như thế đấy. Thằng cha kia đã
thấy cái thế có lợi cho nó, hẳn nó sẽ làm già đến cùng."
Chắc hẳn là ở bang Kentucky, chế độ nô lệ ít hà khắc hơn. Ở cái
xứ nông nghiệp thanh bình ấy, chẳng có ngày mùa làm gấp kịch liệt
như ở miền Nam. Công việc của người da đen lành mạnh hơn, mà
cũng vừa phải hơn. Ở đây, người chủ bằng lòng với số lời phải chăng
và đều đặn. Họ không hề nghĩ tới khai thác nhân công một cách tàn
bạo, độc địa như những người chủ ở miền Nam mù quáng vì miếng
mồi muốn vồ cho nhanh, bằng cách bóc lột những kẻ yếu thế không
người che chở.
Những ai đã từng đến thăm những đồn điền vùng Kentucky nhận
xét thấy lòng rộng lượng của một số người chủ đồn điền và sự tận
tâm dễ thương của một số người nô lệ, sẽ dễ xiêu lòng nhìn nhận câu
chuyện nên thơ về chế độ gia trưởng. Nhưng có điều bất hạnh là có
một bóng đen to lớn phủ lên bức tranh thơ mộng ấy: đó là cái bóng
đen của pháp luật. Chừng nào pháp luật còn coi những con người ấy,
những con người có một trái tim nóng hổi và đầy xúc cảm như trái
tim của chúng ta, là những đồ vật thuộc về một người chủ; chừng nào
một sự thất bại, một tai họa, một hành động dại dột hay cái chết của
một ông chủ hảo tâm còn có thể bó buộc những con người kia phải
đánh đổi cuộc đời đang được che chở lấy một cuộc đời khốn cùng, lao
động cực nhục, thì chế độ nô lệ không thể được coi là một chế độ
đáng ước ao hay tốt đẹp được, dù chế độ ấy có tổ chức chặt chẽ và áp
dụng đúng đắn đến đâu.
Ông Shelby là một người chân thực, có tấm lòng nhân hậu, vốn
lại độ lượng với những người xung quanh. Trong trại của ông bao giờ
ông cũng chú ý săn sóc đến đời sống vật chất của những người da
đen. Nhưng chẳng may, ông lao vào những hoạt động tích trữ dại dột,
khiến ông mang công mắc nợ lớn. Chứng từ những món nợ ấy lại rơi
vào tay Haley; bởi vậy mới có câu chuyện trao đổi giữa hai người, đã
thuật lại bên trên.
Câu chuyện đó, Eliza nấp sau cánh cửa, đã lõm bõm nghe đủ để
hiểu rằng có một tên con buôn muốn mua một người nô lệ của ông
chủ chị. Lúc ở phòng đi ra, chị có ý định nán lại nghe tiếp, nhưng có
tiếng bà chủ gọi, nên bất đắc dĩ phải bỏ đi. Thế nhưng hình như chị
nghe thấy gã con buôn kia nói muốn đứa con trai của chị. Chị có nghe
lầm không? Tim chị đập thình thịch, chị xúc động ghì chặt con vào
lòng, khiến đứa bé ngước con mắt ngạc nhiên nhìn chị.
Bà chủ hỏi chị:
- Hôm nay con làm sao thế?
Eliza hết đánh đổ thau nước, lại đánh rơi rổ may vá; rồi bây giờ,
đáng lẽ phải đưa cho bà chủ chiếc áo lụa lấy trong tủ ra, chị lại đưa
một chiếc áo ngủ.
Eliza rùng mình, ngước mắt nhìn lên, bật lên tiếng khóc, rồi ngã
xuống một chiếc ghế bành. chị rên rỉ:
- Bà ơi! Cháu nghe thấy có người lái buôn nói chuyện với ông
cháu trong phòng khách.
- Con bé dở hơi này, thế rồi sao nữa?
- Thưa bà, bà có nghĩ là ông cháu định bán cháu bé Harry không ạ
?
- Bán thằng Harry! Không đời nào! Mày nên biết là ông chủ
không bao giờ giao dịch với bọn con buôn miền Nam, mà cũng không
bao giờ nghĩ đến chuyện bán kẻ ăn người làm, nếu chúng mày còn ăn
ở cho phải đạo. Với lại, ai lại nghĩ đến việc mua thằng Harry? Mày cứ
tưởng ai cũng chăm chăm nhìn thằng Harry như mày đấy hẳn. Thôi,
thôi, cứ bình tĩnh lại, cài khuy áo cho ta. Được rồi, bây giờ búi tóc cho
ta như hôm nọ mày đã học búi đó, rồi, nhất là từ nay, chớ nấp ở cửa
mà nghe lỏm nữa.
- Thưa bà, vâng. Nhưng bà sẽ không bao giờ đồng ý như thế, có
phải không ạ?
- Mày dở hơi lắm! Hẳn là không, không bao giờ ta đồng ý. Bán
thằng Harry thì cũng như bán đứa con ta đẻ ra. Thật tình mà nói,
Eliza ạ, có thằng bé, mày đâm ra làm bộ làm tịch quá lắm. Động có
người lái buôn đặt chân đến nhà, là mày tưởng người ta đến để mua
con mày.
Eliza yên trí, cười vì nỗi lo sợ vừa qua của mình. Chị sửa bộ áo
cho bà chủ, khéo léo như thường ngày.
Bà Shelby là một phụ nữ có phẩm chất hơn người. Vốn có một
tấm lòng độ lượng như tất cả phụ nữ ở Kentucky, bà còn có thêm ý
thức rất cao về đạo đức tôn giáo. Những nguyên tắc của bà, bà thực
hiện nghiêm chỉnh, chồng bà chẳng theo một dòng đạo nào nhưng
vẫn tôn trọng lòng tin đạo và những ý kiến của bà. Ông hoàn toàn để
mặc bà làm mọi việc nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
cho những người nô lệ.
Sau câu chuyện trao đổi với Haley, ông Shelby thấy mình có
nhiệm vụ phải cho vợ biết dự định thu xếp công việc của mình. Ông
cũng có những lí lẽ để dự đoán rằng vợ ông sẽ phản đối kịch liệt.
Bà Shelby chỉ hiểu chồng có một tấm lòng thương người, chứ
không biết gì về sự dàn xếp công việc như trên của ông, nên bà rất
chân thật khi tỏ ý không tin những lời ngờ vực của Eliza. Sự thật, bà
chẳng chú ý đến việc ấy nữa; bà bận rộn sắm sửa để đi thăm bà con
tối hôm ấy.
2
NGƯỜI MẸ
E
liza được bà chủ nuôi nấng nuông chiều; chị được bà thương
yêu hơn cả. Những ai từng đi thăm miền Nam, ắt phải nhận
thấy rằng những người phụ nữ lai da đen có những nét rất
thanh, có giọng nói và dáng điệu dịu dàng. Ở những người phụ
nữ lai một phần tư, cái duyên dáng tự nhiên ấy thường lại kết hợp với
một vẻ đẹp lộng lẫy.
Eliza được bà chủ che chở; chị đã lấy chồng, một thanh niên lai
da đen thông minh; anh là nô lệ trong một đồn điền bên cạnh, tên anh
là George.
Chủ anh cho một nhà máy sản xuất bao tải mướn anh làm công
nhân. Chàng thanh niên được coi là người thợ giỏi nhất nhà máy.
Anh khéo léo, lại có tài; anh đã sáng chế được một cái máy tước vỏ
cây gai. Với trình độ học thức ít ỏi, trong hoàn cảnh sinh sống khó
khăn, quả đó là một tài năng về cơ khí chẳng kém gì Whitney đã hoàn
thành cái máy lọc hạt bông của mình[3].
George là một thanh niên đẹp trai, dáng điệu dễ thương; cả nhà
máy yêu mến anh. Nhưng, dưới con mắt của pháp luật, người thanh
niên ấy không phải là một con người, mà là một đồ vật, và tất cả
những phẩm chất cao quý của anh đặt dưới quyền kiểm soát của chủ
anh, một người tầm thường, độc đoán và thiển cận. Khi hắn ta nghe
tin George phát minh được một cái máy, hắn đến nhà máy để xem cái
đồ vật có trí óc ấy đã làm nên trò trống gì. Ông giám đốc niềm nở tiếp
hắn và hoan nghênh hắn có được một người nô lệ đáng quý như vậy.
Người ta dẫn hắn đến nhà máy và nghe George thuyết minh cái
máy của mình. Giọng nói của anh hùng hồn, dáng điệu chững chạc,
cử chỉ đường hoàng khiến tên chủ có cái cảm giác khó chịu, thấy kém
anh về mọi mặt. Một thằng nô lệ của hắn có quyền gì mà lại có thể đi
khắp đó đây, mặt thì vênh lên, và lại sáng chế máy móc nữa? Đã đến
lúc phải chấm dứt đi thôi, phải lôi nó về nhà, bắt nó làm việc ruộng
nương. Bởi vậy, ông giám đốc và tất cả thợ thuyền đều kinh ngạc khi
nghe gã chủ nô lệ đòi tiền thuê anh George và báo tin là hắn muốn
mang anh về.
Ông giám đốc phản đối:
- Kìa ông Harris, quyết định của ông hơi đột ngột phải không
ông?
- Đột ngột đã sao? Cái thằng ấy không thuộc về tôi sao?
- Chúng tôi dự định tăng lương cho anh ta.
- Thưa ông, vô ích. Tôi không hề bắt buộc phải cho thuê nô lệ của
tôi khi tôi không muốn.
- Nhưng, thưa ông, anh ta rất hợp với công việc nhà máy.
- Tôi cũng tin như thế; nhưng ở nhà tôi, khi tôi bảo nó làm thì nó
chẳng chịu khó tí nào.
Một người thợ nói chen vào, không đúng chỗ:
- Ông nên nghĩ là anh ấy đã sáng chế ra cái máy này.
- Đúng. Một cái máy giúp nó tránh được việc lao động có phải
không? Thật giống nó như hệt, bao giờ chẳng thế. Thằng da đen nào
mà chẳng muốn trốn lao động. Sự thật, cái bọn da đen, đứa nào cũng
là những cái máy tránh lao động. Không, tôi mang nó về.
George đứng lặng người khi nghe bản án do một quyền lực độc
đoán tuyên bố. Hai tay anh khoanh lại, môi mím chặt; anh thấy một
sức phản kháng vùng dậy sôi sục trong lòng. Hơi thở dồn dập, đôi
mắt đen lánh tóe ra những tia lửa. Nếu ông giám đốc không nắm lấy
tay anh mà khẽ thì thầm bảo anh thì anh đã có những hành động
phản kháng dại dột:
- Anh George ạ, anh cứ để người ta làm gì thì làm; trước hết, cứ đi
theo ông ta. Sau này, chúng tôi sẽ liệu đưa anh trở lại đây.
Lời thì thầm ấy không qua được mắt gã độc đoán; hắn đoán biết
được ý nghĩa của câu nói thầm, và điều đó chỉ làm cho hắn kiên quyết
hơn.
...
N
ước Mĩ mới được thành lập từ cuối thế kỉ XVIII, sau khi
đánh bại bọn thực dân Anh. Vừa ra đời, nó ra sức phát triển
công nghiệp, với ý đồ đuổi kịp và vượt các nước tư bản châu
Âu. Ngay từ đầu, tư bản Mĩ đã thấm đầy máu và mồ hôi của
nhân dân lao động, nhất là của những người nô lệ da đen. Đầu thế kỉ
XIX, kinh tế Mĩ phát triển mạnh, nhân công thiếu một cách nghiêm
trọng. Để có nhân công, bọn con buôn sang châu Phi, buôn những
người da đen; chúng xông vào các thành thị, thôn xóm châu Phi, lùa
từng đoàn người xuống tàu biển chở sang Mĩ làm nô lệ. Biết bao cảnh
đàn áp, đánh đập, giết tróc vô cùng tàn nhẫn. Chúng nhốt những
người da đen vào cũi dưới hầm tàu, đẩy họ lên đất Mĩ sống cuộc đời
nô lệ. Một số những người nô lệ ấy, phần nhớ quê hương đất nước,
gia đình làng mạc, phần bị hành hạ hết sức dã man, đã bỏ mình trên
đường tới nước Mĩ, và xác họ bị vứt xuống biển. Hàng vạn người đã
chịu số phận như thế. Những người sống sót bị bán ở các chợ bán nô
lệ nhan nhản trên thị trường Mĩ lúc bấy giờ. Họ bị xiềng xích, đánh
đập, vợ lìa chồng, cha bỏ con, cuộc đời đầy tủi nhục, oán hờn. Những
người nô lệ bị coi như đồ vật, những "đồ vật biết nói" không có chút
quyền mảy may; chủ nô lệ có đủ mọi quyền hành đối với họ như đối
với những đồ vật vô tri vô giác. Chúng tha hồ đánh đập, bán đi mua
lại, hoặc giết chết. Đó là một chế độ cực kì dã man, một vết nhơ trong
lịch sử nước Mĩ. Nhưng ở đâu có áp bức, ở đấy có đấu tranh. Những
người nô lệ da đen đã nhiều lần nổi dậy để tự giải phóng; nhưng họ bị
đàn áp khốc liệt, những cuộc nổi dậy bị nhấn chìm trong biển máu.
Đến giữa thế kỉ XIX, vì vấn đề chế độ nô lệ, nước Mĩ chia làm hai
miền chống đối nhau; một cuộc nội chiến gọi là "Bắc Nam phân
tranh" kéo dài 5 năm (1860 - 1865). Ở miền Bắc nước Mĩ, công
nghiệp phát triển mạnh mẽ cần nhiều công nhân có quyền tự do vào
làm các xưởng máy, do đó chủ trương xóa bỏ chế độ nô lệ để thu hút
nhân công từ ruộng đất vào xí nghiệp. Nhưng ở miền Nam nước Mĩ,
đất đai màu mỡ, việc trồng bông rất thuận tiện. Công nghiệp dệt lại
đòi hỏi nhiều bông. Nhu cầu về bông tăng lên vùn vụt. Bọn tư bản
miền Nam muốn giữ nhân công gắn chặt với ruộng đất của chúng, cố
sức duy trì chế độ nô lệ. Mâu thuẫn về quyền lợi của tư bản giữa hai
miền Nam - Bắc tăng lên. Đó là nguyên nhân xảy ra nội chiến ở Mĩ.
Từ năm 1840, ngay ở miền Nam nước Mĩ, có những người Mĩ có xu
hướng tiến bộ chủ trương giải phóng nô lệ. Họ đấu tranh lên báo chí,
trong nghị trường, đòi chính phủ phải hủy bỏ chế độ vô nhân đạo ấy.
Họ giúp người nô lệ da đen trốn khỏi địa ngục là những đồn điền
bông; ở đó người da đen bị ngược đãi hết sức dã man. Họ tổ chức
những chặng đường bí mật, những trạm đón tiếp nô lệ bỏ trốn, dẫn
sang Canada, là đất nước lúc bấy giờ không còn chế độ nô lệ (Canada
xóa bỏ chế độ nô lệ năm 1833). Đất Canada tượng trưng cho sự tự do
của những người nô lệ da đen ở Mĩ lúc bấy giờ. Hoàn cảnh ra đời của
tác phẩm "Túp lều bác Tom" là như thế.
Bà Harriet Beecher Stowe (1811 - 1896) - tác giả của quyển sách
này, sống ở bang Ohio, một bang ở sát miền Nam nước Mĩ, nơi chế
độ nô lệ tồn tại khốc liệt nhất. Bà đã mắt thấy tai nghe những cảnh
buôn bán nô lệ rất thương tâm; bà đã chứng kiến những cảnh lao
động khổ nhục của người nô lệ; bà đã thấy họ bị đày đọa, đánh đập
tàn nhẫn như thế nào; bà đã thấy bọn chủ nô dùng chó săn đuổi bắt,
cắn xé người nô lệ bỏ trốn, hoặc dùng súng đi săn bắt họ như săn bầy
thú rừng. Bà cũng đã thấy những cuộc đấu tranh của người da đen để
tự giải phóng, và đã viết nên tác phẩm "Túp lều bác Tom". Những
người Mĩ có xu hướng tiến bộ lúc ấy coi nô lệ da đen là những con
người cũng có tình thương yêu gia đình thắm thiết, cũng có một tâm
hồn phong phú, có trí thông minh tuyệt vời và có tinh thần đấu tranh
gan dạ. Họ đứng về phía tự do, bảo vệ quyền của con người, coi chế
độ nô lệ là một chế độ dã man cần xóa bỏ. "Túp lều bác Tom" đã
nói lên điều đó.
Tác phẩm kể cuộc đời thống khổ của một người nô lệ da đen là
bác Tom. Bác là một người trung thực, ngay thẳng, biết trọng danh
dự. Nhưng cuộc đời bác là một chuỗi ngày đen tối, đầy tủi nhục. Bác
phải lìa bỏ vợ con, bị bán từ nơi này qua nơi khác, bị đánh đập tàn
nhẫn. Cuối cùng, do bảo vệ nhân phẩm của mình, bác bị đánh chết
trong một đồn điền trồng bông khủng khiếp ở miền Nam nước Mĩ,
nơi chôn vùi bao nhiêu cuộc đời lầm than như cuộc đời bác. Tác
phẩm còn kể số phận của Eliza cùng đứa con, bỏ trốn đi. Đó là một
người mẹ đã hi sinh tất cả để cứu đứa con khỏi rơi vào tay một tên
buôn nô lệ tàn ác; đó là một người vợ tha thiết yêu chồng - một thanh
niên thông minh, đã sáng chế ra một cái máy tước sợi gai, mà cuộc
đời cũng bị đày đọa, trăm nghìn cay đắng.
"Túp lều bác Tom" ca ngợi những người nô lệ da đen là những
người trung thực, biết tôn trọng phẩm giá con người như bác Tom,
những người mẹ dũng cảm như Eliza, những thanh niên cương nghị,
tha thiết với tự do như George. Đồng thời, tác phẩm cũng lên án đanh
thép chế độ nô lệ nhan nhản những tên con buôn, những tên chủ nô
lệ cùng bọn tay sai vô cùng tàn bạo, bọn côn đồ chỉ biết tôn thờ tiền
vàng. Đồng tiền vàng làm chúng mất hết tính người. Pháp luật của
nhà nước Mĩ bênh vực chế độ nô lệ, cho phép chúng đánh đập xiềng
xích, giết chết những người da đen vô tội và trừng trị những ai che
chở người nô lệ.
Với tác phẩm của mình, nhà văn Stowe đã đóng góp một phần vào
công cuộc giải phóng nô lệ ở nước Mĩ; bà tố cáo thống thiết chế độ vô
nhân đạo ấy, khích lệ những người Mĩ có lương tâm đấu tranh để tiêu
diệt nó.
Đọc tác phẩm này, chúng ta cần chú ý đến hai con đường để thực
hiện lí tưởng tự do. Bác Tom sống một cuộc đời trong sạch, bác
thương yêu vô hạn những người cùng cảnh ngộ, bác dũng cảm chịu
chết chứ không chịu đánh một người nô lệ khác. Bác không đấu tranh
bạo lực, sợ đổ máu. Bác luôn luôn hướng về Chúa, nhưng Chúa không
hề bênh vực bác và những người khổ cực như bác. Tấm lòng nhân
đạo đưa bác đến cái chết thê thảm. Con đường thứ hai là con đường
mà Eliza, George đã đi. Phải vùng dậy, đấu tranh không khoan
nhượng với kẻ thù.
Bằng những lời lên án quyết liệt chế độ nô lệ, bằng những con
đường đấu tranh mà tác giả đã đề ra để tranh thủ mọi tầng lớp xã hội
khác nhau ở nước Mĩ lúc bấy giờ, bà Stowe được coi là "người phụ nữ
da trắng trẻ tuổi đã góp phần vào chiến thắng của lực lượng tiến bộ
đòi hủy bỏ chế độ nô lệ trong cuộc nội chiến."
Trong những năm hoạt động cách mạng thời trẻ tuổi, Bác Hồ đã
qua Mĩ và đọc "Túp lều bác Tom". Bác là người Việt Nam đầu tiên
lên án gay gắt chính sách phân biệt chủng tộc rất dã man của đế quốc
Mĩ ngay từ ngày ấy, trong nhiều bài báo đăng trên báo chí ở nước
Pháp.
Người dịch
1
BẠN ĐỌC LÀM QUEN VỚI MỘT
NGƯỜI BẠN TỐT BỤNG
S
ẩm tối một ngày giá lạnh tháng hai có hai người lịch sự ngồi
trong phòng ăn bày biện sang trọng tại một ngôi nhà ở thành
phố P - bang Kentucky. Một cốc rượu đặt trước mặt họ: hai
chiếc ghế bành kéo sát vào nhau; kẻ ăn người làm đã bị đuổi ra
khỏi phòng; hình như họ đang bàn luận với nhau một chuyện gì rất
quan trọng.
Xem xét họ kĩ hơn thì một người chẳng đáng được gọi là "người
lịch sự." Khổ người hắn ta thấp bé phè phè ngắn ngủn, nét mặt thô lỗ,
điệu bộ hợm hĩnh. Đúng là hắn ta thuộc loại những kẻ từ hai bàn tay
trắng đã huých kẻ nọ người kia để leo lên bậc thang xã hội. Hắn ăn
mặc lòe loẹt, bận một chiếc gi-lê sặc sỡ, choàng một cái khăn màu
xanh nhạt lốm đốm vàng trên cái cổ áo kiểu lãng mạn[1] Những ngón
tay xù xì đầy những nhẫn là nhẫn. Hắn đeo một chiếc dây đồng hồ
nặng trĩu những đồ trang sức bằng vàng; trong lúc hăng say trò
chuyện, hắn thích làm cho kêu leng keng. Hắn ăn nói cũng sỗ sàng
đúng như con người hắn; hắn hay chêm vào câu chuyện của mình lắm
tiếng chửi rủa tục tằn, dù có muốn tôn trọng sự thực đến đâu cũng
chẳng thể kể ra đây được.
Trái lại, ông chủ nhà, ông Shelby, thoáng nhìn cũng biết ngay là
một người lịch sự; ngay cách xếp đặt ngăn nắp và vẻ sang trọng kín
đáo của ngôi nhà cũng đủ chứng tỏ điều đó. Trong khi người khách
nâng cốc rượu lên, ông nói ý kiến của ông:
- Thế nhưng tôi tha thiết muốn giải quyết việc này.
Gã kia đáp:
- Không thể được, thưa ngài Shelby. Tôi không thể thỏa thuận
trên cơ sở này được.
Ông Shelby nhấn mạnh thêm:
- Tom là một người đặc biệt. Ông Haley ạ, bất kì ở đâu bác ta
cũng đáng cái giá ấy; bác ta đứng đắn, trung thực và có năng lực. Nhờ
bác ta, công việc ở trại của tôi chạy chính xác như một chiếc đồng hồ.
Haley mỉa mai hỏi lại:
- Trung thực à? Trung thực kiểu một thằng da đen!
Hắn nốc cạn cốc rượu, và không đợi mời, hắn rót thêm một cốc
nữa. Ông Shelby nói tiếp:
- Ông cứ tin ở tôi. Tom thật thà, lại rất biết điều và rất ngoan đạo.
Cách đây bốn năm, bác ta đã quy đạo. Tôi chắc rằng bác ta ngoan đạo
lắm! Tôi hoàn toàn tín nhiệm bác ta. Tiền bạc, nhà cửa, đàn ngựa, tôi
đều giao cho bác ta cả. Tôi để mặc bác ta được tự do đi lại trong vùng
này.
Haley dõng dạc nói:
- Thưa ngài Shelby, chẳng thiếu gì người không chịu tin bọn da
đen ngoan đạo. Nhưng tôi, thì tôi tin đấy - hắn ta vừa nói vừa để tay
lên ngực, vẻ thơ ngây giả dối tôi cũng có một thằng da đen ngoan đạo,
trong cái bọn da đen tôi đưa sang New Orleans chuyến trước. Cứ
nghe cái ngữ ấy cầu kinh thì y như nghe một bài giảng đạo. Bán nó,
tôi vớ được một món hời: lãi sáu trăm đô la đấy nhé, bởi vì tôi mua
của một anh chàng vỡ nợ, gần như chẳng mất đồng nào. Tôi rất đồng
ý với ngài: một thằng da đen ngoan đạo quả là một món khá đấy, nhất
là khi lòng tin của nó chân thành. Tất nhiên, phải thật sự như vậy.
Ông chủ nhà quả quyết:
- Tôi có thể cam đoan với ông rằng Tom chính là một người như
vậy. Mùa thu vừa qua, tôi sai bác ta một mình đi Cincinnati để giải
quyết một việc cho tôi. Lần ấy bác ta phải mang về cho tôi năm trăm
đô la. Trước khi bác ta đi, tôi bảo: "Tom, tôi tin ở bác, tôi tin bác là
một con chiên ngoan đạo, bác chẳng bao giờ lừa dối tôi." Thế là Tom
trở về, mang theo món tiền đúng như đã định trước. Hình như có
những kẻ không tốt đã xui bác ta trốn sang Canada nhưng Tom không
chịu nghe. Phải bán bác ta, tôi thật không vui chút nào ông Haley ạ,
ông nên trừ tất cả món nợ của tôi mà lấy bác ta về, thế mới là có
lương tâm.
Gã con buôn đùa cợt trả lời:
- Vâng, thì cần có bao nhiêu lương tâm trong việc buôn bán, tôi
xin đưa ra cả. Vừa đủ để tuyên thệ, ngài hiểu đấy! Thường thường, tôi
hay sẵn sàng giúp đỡ bạn bè. Nhưng ngài xem, trong việc này, như
thế là đòi hỏi quá nhiều, thật thế.
Hắn thở dài một cái, và lại tự rót cho mình một cốc rượu nữa.
Sau một lát yên lặng lúng túng, ông Shelby hỏi:
- Thế ông muốn ăn giá thế nào?
- Ngài có thể thêm cho tôi một đứa bé trai hoặc gái, được không?
- Ôi chà... Tôi chẳng có đứa trẻ nào để bán cho ông cả; bần cùng
bất đắc dĩ, tôi mới phải bán nô lệ của tôi. Tôi không thích gì cái cảnh
họ phải chia li.
Cửa phòng mở, một chú bé lai da đen độ bốn, năm tuổi chạy vào.
Chú bé xinh xắn lạ thường và rất dễ thương; những mớ tóc xoăn đen
lánh, mịn như tơ, tỏa vòng tròn trên đôi má phình lúm đồng tiền;
dưới hàng mi dài và cong, đôi mắt chú mênh mông, thăm thẳm vừa
long lanh, vừa dịu hiền; chú tò mò nhìn xem người ta làm gì trong
phòng khách. Bộ quần áo bằng vải kẻ ô đỏ và vàng, đường kim mũi
chỉ khéo léo, rất ăn khớp với vẻ xinh xắn của chú bé da đen. Cái vẻ
vừa tự tin một cách ngộ nghĩnh, vừa rụt rè của chú, chứng tỏ ông chủ
thường hay nuông chiều và săn sóc đến chú. Ông Shelby ra lệnh:
- Chú Qua Jim, chào!
Ông lấy một chùm nho ở một cái đĩa quăng cho chú bé, rồi ông
huýt sáo miệng như gọi một con chó con, bảo chú:
- Này, cho mày, bắt lấy.
Đôi chân ngắn ngủn chạy hết tốc lực, chú bé bắt lấy chùm nho,
ông chủ vừa cười vừa bảo chú bé leo lên đùi mình. Ông vuốt ve mớ
tóc xoăn, bấu cằm chú và ra lệnh:
- Chú Quạ con này, bây giờ chú khoe với ông khách là chú biết
múa, biết hát đi nào!
Chú bé cất tiếng ca một điệu hát lạ lùng của những người da đen.
Giọng chú trong và êm ái. Chú vừa hát vừa múa chân, múa tay, người
chú uốn éo nhịp nhàng theo điệu bài ca.
Haley vứt cho chú bé một miếng cam, miệng khen:
-Hay!
Ông chủ lại ra lệnh:
- Chú Qua Jim, bây giờ chú thử bắt chước bác Cudjoe khi bác đi
thấp khớp xem nào!
Tức thì chú bé khòm khòm đôi chân, lưng còng xuống, tay chống
chiếc gậy của ông chủ, khập khiễng đi trong phòng, mặt co rúm lại vì
đau đớn, nhổ toẹt sang bên phải, sang bên trái, giống hệt một ông cụ
già.
Hai người phá lên cười.
- Bây giờ chú giả làm cụ Robbins hát bài hát kinh Thánh xem nào.
Cái mặt phình phính của chú bé bỗng dài thuỗn ra, và chú bé lấy
giọng mũi ca một bài Thánh ca, vẻ hết sức nghiêm trang. Haley khoái
quá, vỗ tay khen:
- Hay, hay tuyệt! Thằng bé mới tuyệt làm sao! Kì diệu thật!
Hắn lấy tay đập vào vai ông Shelby, reo lên:
- Này ngài, nếu ngài để cho tôi thằng bé, thì công việc coi như
xong. Ngài thấy đấy, tôi là người biết nhân nhượng.
Cùng lúc đó, cánh cửa từ từ mở, một thiếu phụ lai da đen, chừng
hai mươi lăm tuổi, bước vào. Thoạt trông thấy cũng biết chị là mẹ của
chú bé. Cũng con mắt ấy, cũng hàng mi dài ấy, cũng những mớ tóc
xoăn mịn như tơ ấy. Đôi má màu nâu nhạt bỗng đỏ ủng lên, khi chị
thấy con mắt láo xược của người khách lạ trâng tráo chằm chằm nhìn
chị. Chiếc áo cắt chẽn làm nổi tấm thân của chị; toàn thân chị từ hai
bàn tay đến đôi mắt cá chân xinh xinh không thoát khỏi con mắt của
gã tay buôn đã quen đánh giá món hàng phụ nữ bằng một cái liếc mắt
nhìn qua.
Thấy chị dừng lại, rồi nhìn mình một cách rụt rè, ông Shelby cất
tiếng hỏi:
- Cái gì thế, Eliza?
Chị xin lỗi:
- Xin lỗi ông, cháu tìm cháu bé Harry.
Tức khắc, chú bé chạy đến bên chị; chú khoe với mẹ mấy món quà
chú đựng trong vạt áo. Ông Shelby gật đầu:
- Chị đưa nó về được đấy.
Eliza vội vàng ôm lấy chú bé, bế đi.
Gã con buôn nói khẽ:
- Mẹ kiếp! Con bé mới đẹp làm sao! Ở New Orleans thì có thể làm
giàu với cái của ấy. Tôi đã từng thấy những đứa không xinh bằng mà
người ta dám trả tới trên một nghìn đô la.
Ông Shelby lạnh lùng đáp:
- Tôi không ưa làm giàu bằng cách buôn bán con người.
Ông mở một chai rượu mới và hỏi ý kiến gã con buôn, cốt để
đánh lảng câu chuyện. Nhưng sau khi gã tuyên bố là rượu ngon hảo
hạng, gã đập bàn tay nặng trình trịch của gã lên vai ông chủ nhà và
hỏi, giọng sỗ sàng:
- Nào, ngài lấy bao nhiêu? Ngài định giá đi!
- Tôi không bán chị ta. Nhà tôi không muốn phải xa chị ta, dù
được một đống vàng nặng bằng chị ta.
- Úi chà, đàn bà thì bao giờ cũng giọng ấy, bởi vì họ có biết tính
toán gì đâu; nhưng cứ việc bảo cho họ biết với số vàng ấy, họ sẽ có
bao nhiêu đồng hồ, bao nhiêu bút máy và bao nhiêu những đồ linh
tinh khác, thì họ thay đổi ý kiến ngay đấy mà.
Ông Shelby nói quả quyết:
- Tôi nhắc lại là câu chuyện không phải như thế. Tôi đã bảo không
là không.
- Nhưng thế nào ngài cũng để cho tôi thằng bé con, được nó thì
tôi thôi không đòi hỏi thêm nữa.
Ông Shelby ngạc nhiên:
- Ông lấy thằng bé để làm cái quái gì kia chứ?
Haley trả lời:
- Tôi có một thằng bạn chuyên cái nghề này. Nó mua những đứa
trẻ kháu kỉnh, nuôi nấng rồi ném ra thị trường. Những của lạ mà! Nó
bán cho nhà giàu. Bọn này thích có những đứa trẻ kháu khỉnh hầu hạ
khi ăn uống, có khi dùng làm trẻ mở cửa, có khi dùng làm kẻ hầu hạ
nơi phòng ngủ. Ngài xem, một món hời đấy. Tụi trẻ con giá đắt ra
phết, cái thằng nhóc của ngài hóm hỉnh, lại hát hay, pha trò cừ, thật là
một món bở.
Ông Shelby nghĩ ngợi, khẽ nói:
- Tôi cũng chẳng muốn bán nó làm gì. Ông biết, tôi rất thương
người, tôi chẳng hề ưa thích cướp nó đi trong tay mẹ nó.
- Hử? Tôi cũng hiểu tấm lòng của ngài đấy. Giây với bọn đàn bà
lắm khi rầy rà ra trò. Thấy họ kêu khóc, tôi đến phát kinh. Thưa ngài,
thường thì tôi cũng tránh được. Ngài cứ việc cho người mẹ đi biệt
một nơi nào khác, một hai ngày, hay ngay cả một tuần lễ nữa. Thế là
khi nó trở về, mọi việc đều xong xuôi cả. Bà nhà ta sẽ mua cho nó một
đôi hoa tai, hay may cho nó một cái áo mới để nó khuây khỏa, thế là
xong tuốt.
- Tôi e rằng không xong được.
- Xong chứ! Trời đất ơi! Tôi quả quyết với ngài rằng bọn chúng
nó không như người da trắng chúng ta đâu, miễn là ta biết cách khéo
xử.
Rồi ra vẻ thân tình, Haley nói thêm, giọng chân thành:
- Người ta thường nghĩ cái nghề của tôi làm cho trái tim chai
cứng lại, nhưng xin ngài tin rằng tôi không phải hạng người như thế.
Tôi biết có những kẻ đang tâm giằng lấy đứa con trong tay người mẹ,
rồi bán đứa bé ngay trước mặt chị ta, trong khi chị ta khóc thét lên
như một con điên. Thưa ngài, cái lối ấy thật là dở; như thế chỉ tổ làm
hỏng món hàng của mình, có khi lại chẳng dùng được việc gì nữa. Ở
New Orleans, tôi biết một con bé rất xinh, nhưng vì làm cách đó, nên
hỏng bét cả. Chả là có một gã muốn mua con bé đó, nhưng lại cóc cần
gì đến đứa con của nó: con bé cứ ôm ghì lấy đứa con trong lòng mà
phản kháng và la hét kinh khủng. Tôi lạnh buốt xương sống. Khi đứa
con bị lôi đi rồi, phải nhốt con bé kia lại, thế là chỉ trong tám ngày nó
ngoẻo. Thưa ngài, lãng phí bao nhiêu! Một ngàn đô la, mất toi. Kinh
nghiệm dạy cho tôi phải hành động một cách nhân đạo.
Gã con buôn lấy vẻ đạo đức ngả người xuống lưng ghế, hai tay
khoanh trước ngực. Hẳn là hắn ta tự coi mình như một người tu
nhân tích đức, một vị Wilberforce[2] thứ hai.
Ông Shelby gọt một quả cam, vẻ trầm tư. Haley đang say sưa với
câu chuyện của mình; thấy cần phải nói thêm, hắn tiếp:
- Tôi biết là tự mình khoe mình thì chẳng hay ho gì, nhưng tôi vẫn
được cái tiếng là đưa ra thị trường những món hàng da đen tốt nhất;
bọn da đen của tôi béo mẫm, được ăn uống đầy đủ, thành thử chúng
bị hao hụt rất ít. Thưa ngài, đó là cách làm ăn của tôi; cách làm ăn ấy
dựa trên cơ sở lòng nhân đạo. Tôi là một người tốt bụng.
Hắn im lặng, còn ông Shelby thì không biết nói gì thêm, ông khẽ
bảo:
- Thật thế à?
- Thưa ngài, người ta thường giễu tôi. Còn có người trách tôi nữa
là khác. Tôi biết đó là những ý nghĩ không bình dân lắm; mà ý nghĩ
ấy, không phải ai cũng có nhưng tôi kiên quyết giữ vững ý mình. Và
tôi đã thành công. Tôi lãi to, tôi cam đoan với ngài như vậy. Những ý
nghĩ của tôi đưa tôi đi đây đi đó, và đã thu được những món lời lớn. Hắn vừa kết luận như vậy, vừa cười cái câu pha trò của hắn.
Cái lối quan niệm lòng nhân ái đối với con người như vậy có một
cái gì thật đặc biệt và thú vị, khiến ông Shelby phải bật cười. Đúng
thế, có khi tình cảm của con người có những dạng hết sức kì cục, và
sự điên rồ cùng với sự phi lí của con người thật không bờ bến. Thấy
ông chủ nhà cười, gã con buôn phấn khởi nói tiếp:
- Có điều lạ lùng, là tôi không sao làm cho ý nghĩ của tôi thấm
được vào đầu óc những kẻ khác. Lấy thí dụ một tay trước đây có hùn
vốn với tôi, thằng Tom Loker, ở Natchez. Thằng cha thông minh,
nhưng đối với bọn da đen, nó tàn bạo kinh khủng. Đó chỉ là vì nguyên
tắc của nó, chứ, thưa ngài, xét đến cùng, ở trên đời này, chẳng ai tốt
bằng nó; nó lành như cục đất. Tôi thường trách nó mà bảo: "Tom,
những con bé của mày rống lên như ngựa, mày đánh chúng nó phỏng
ích lợi gì? Thật là dại, và hoàn toàn vô ích, chỉ tổ chúng nó ốm và
chính mày hủy hoại chúng nó, làm cho chúng nó xấu đi, nhất là
những đứa có nước da sáng sủa, như vậy mày làm sao mà bán đi
được? Tại sao không nói với chúng nó ôn tồn hơn? Tom ạ, một chút ít
lòng nhân đạo lại có tác dụng hơn những câu chửi rủa và những roi
vọt của mày kia đấy. - Tôi bảo nó thế. - Và như vậy, chắc chắn mày sẽ
lãi gấp bội..." Nhưng thằng Tom Loker nào có nghe. Cuối cùng, tôi
phải bỏ cánh với nó, nó hủy hoại nhiều con gái da đen quá. Tuy vậy
nó là một con người hảo tâm, sòng phẳng trong việc buôn bán.
- Ông coi cách làm ăn của ông tốt hơn cách làm ăn của người bạn
hùn vốn với ông ư?
- Thưa ngài, dĩ nhiên. Mỗi khi có thể, tôi đều cố gắng làm cho
công việc được êm đẹp, chẳng hạn bán trẻ con. Tôi tìm cách làm cho
người mẹ không trông thấy, khuất mắt thì còn xót xa gì, có phải thế
không? Quả vậy, về sau họ cũng khuây đi. Họ có như người da trắng
đâu. Bởi vì, đối với chúng ta, về vấn đề gia đình đoàn tụ, người ta đã
nhồi nhét vào đầu óc chúng ta thôi thì đủ mọi tư tưởng, để giáo dục
chúng ta. Một thằng da đen được dạy bảo đúng đắn phải là đứa không
bao giờ được nuôi một hi vọng gì, trong bất cứ lĩnh vực nào.
Ong Shelby mỉm cười:
- Nếu quả thật như vậy, thì tôi e rằng tôi đã dạy bảo sai trái những
người da đen của tôi.
- Có thể như vậy, các ngài, các ngài ở bang Kentucky, quá nuông
chiều bọn da đen. Ý định của các ngài thì tốt đấy, nhưng cuối cùng, đó
không phải là lòng tốt thật sự. Số phận của một thằng da đen là phải
lăn lóc đầu trời cuối đất, là phải bán đi bán lại vào tay anh Ba, anh Tư.
Cứ tống vào đầu óc nó cái khái niệm hi vọng thì chẳng phải là giúp ích
cho nó, bởi vì sau đó, nó thấy cuộc đời hắc búa với nó quá. Tôi tin
chắc rằng nếu mang những thằng da đen của ngài vào một trong
những cái đồn điền mà những đứa khác từ đời xửa đời xưa vẫn vừa
làm việc vừa ca hát được, thì chúng nó sẽ chết vì tuyệt vọng mất. Mỗi
người đều tin vào cách hành động của mình là tốt hơn cả, nhưng tôi
cho rằng phải đối đãi với bọn da đen cho xứng với địa vị của chúng
nó.
Ông Shelby nhún vai để che giấu một cái rùng mình, ông nói:
- Tự mình bằng lòng mình cũng là một điều hay.
Sau một lát yên lặng, hai bên đều nghiền ngẫm ý nghĩ riêng của
mình, Haley tiếp:
- Thế nào, ngài định thế nào?
Ông Shelby do dự đáp:
- Tôi còn phải suy nghĩ và nói chuyện với nhà tôi. Ông Haley ạ,
trong khi chờ đợi, nếu ông muốn công việc được êm ả, như chính ông
đã khuyên tôi, xin ông đừng nói gì cho chung quanh biết. Nếu những
người nô lệ của tôi biết thì ông khó lòng mà lôi đi được một người
trong bọn họ, xin nói chắc với ông như thế.
- Tất nhiên, tất nhiên im lặng là vàng. Song, tôi cần phải đi gấp,
xin ngài trả lời nhanh nhanh cho, để tôi còn liệu tính toán công việc, gã con buôn nhấn mạnh như vậy.
Hắn đứng dậy, mặc áo choàng và cúi đầu chào. Ông Shelby đưa
hắn ra đến cửa, nói:
- Ông trở lại quãng từ sáu giờ đến bảy giờ, tôi sẽ trả lời ông.
Cánh cửa khép lại, ông chủ nhà nghĩ giá ông đá được gã kia lăn
quay xuống cầu thang thì tốt! Quân vô lại láo xược! Nó biết là nó đã
tóm được yết hầu của mình... Giả thử trước đây ít lâu, có ai bảo mình
là mình sẽ phải bán Tom cho cái quân con buôn tồi tệ này để nó đưa
xuống miền Nam thì mình sẽ trả lời: "Anh đày tớ của tôi có phải là
một con chó đâu mà anh nỡ đối xử như thế?" Thế nhưng, việc đành
phải như vậy, mình không thấy có cách giải quyết nào khác. Còn đứa
con của Eliza nữa... Hẳn là vợ mình sẽ làm rầy rà mình, cả về vấn đề
Tom nữa. Đấy, mang công mắc nợ thì như thế đấy. Thằng cha kia đã
thấy cái thế có lợi cho nó, hẳn nó sẽ làm già đến cùng."
Chắc hẳn là ở bang Kentucky, chế độ nô lệ ít hà khắc hơn. Ở cái
xứ nông nghiệp thanh bình ấy, chẳng có ngày mùa làm gấp kịch liệt
như ở miền Nam. Công việc của người da đen lành mạnh hơn, mà
cũng vừa phải hơn. Ở đây, người chủ bằng lòng với số lời phải chăng
và đều đặn. Họ không hề nghĩ tới khai thác nhân công một cách tàn
bạo, độc địa như những người chủ ở miền Nam mù quáng vì miếng
mồi muốn vồ cho nhanh, bằng cách bóc lột những kẻ yếu thế không
người che chở.
Những ai đã từng đến thăm những đồn điền vùng Kentucky nhận
xét thấy lòng rộng lượng của một số người chủ đồn điền và sự tận
tâm dễ thương của một số người nô lệ, sẽ dễ xiêu lòng nhìn nhận câu
chuyện nên thơ về chế độ gia trưởng. Nhưng có điều bất hạnh là có
một bóng đen to lớn phủ lên bức tranh thơ mộng ấy: đó là cái bóng
đen của pháp luật. Chừng nào pháp luật còn coi những con người ấy,
những con người có một trái tim nóng hổi và đầy xúc cảm như trái
tim của chúng ta, là những đồ vật thuộc về một người chủ; chừng nào
một sự thất bại, một tai họa, một hành động dại dột hay cái chết của
một ông chủ hảo tâm còn có thể bó buộc những con người kia phải
đánh đổi cuộc đời đang được che chở lấy một cuộc đời khốn cùng, lao
động cực nhục, thì chế độ nô lệ không thể được coi là một chế độ
đáng ước ao hay tốt đẹp được, dù chế độ ấy có tổ chức chặt chẽ và áp
dụng đúng đắn đến đâu.
Ông Shelby là một người chân thực, có tấm lòng nhân hậu, vốn
lại độ lượng với những người xung quanh. Trong trại của ông bao giờ
ông cũng chú ý săn sóc đến đời sống vật chất của những người da
đen. Nhưng chẳng may, ông lao vào những hoạt động tích trữ dại dột,
khiến ông mang công mắc nợ lớn. Chứng từ những món nợ ấy lại rơi
vào tay Haley; bởi vậy mới có câu chuyện trao đổi giữa hai người, đã
thuật lại bên trên.
Câu chuyện đó, Eliza nấp sau cánh cửa, đã lõm bõm nghe đủ để
hiểu rằng có một tên con buôn muốn mua một người nô lệ của ông
chủ chị. Lúc ở phòng đi ra, chị có ý định nán lại nghe tiếp, nhưng có
tiếng bà chủ gọi, nên bất đắc dĩ phải bỏ đi. Thế nhưng hình như chị
nghe thấy gã con buôn kia nói muốn đứa con trai của chị. Chị có nghe
lầm không? Tim chị đập thình thịch, chị xúc động ghì chặt con vào
lòng, khiến đứa bé ngước con mắt ngạc nhiên nhìn chị.
Bà chủ hỏi chị:
- Hôm nay con làm sao thế?
Eliza hết đánh đổ thau nước, lại đánh rơi rổ may vá; rồi bây giờ,
đáng lẽ phải đưa cho bà chủ chiếc áo lụa lấy trong tủ ra, chị lại đưa
một chiếc áo ngủ.
Eliza rùng mình, ngước mắt nhìn lên, bật lên tiếng khóc, rồi ngã
xuống một chiếc ghế bành. chị rên rỉ:
- Bà ơi! Cháu nghe thấy có người lái buôn nói chuyện với ông
cháu trong phòng khách.
- Con bé dở hơi này, thế rồi sao nữa?
- Thưa bà, bà có nghĩ là ông cháu định bán cháu bé Harry không ạ
?
- Bán thằng Harry! Không đời nào! Mày nên biết là ông chủ
không bao giờ giao dịch với bọn con buôn miền Nam, mà cũng không
bao giờ nghĩ đến chuyện bán kẻ ăn người làm, nếu chúng mày còn ăn
ở cho phải đạo. Với lại, ai lại nghĩ đến việc mua thằng Harry? Mày cứ
tưởng ai cũng chăm chăm nhìn thằng Harry như mày đấy hẳn. Thôi,
thôi, cứ bình tĩnh lại, cài khuy áo cho ta. Được rồi, bây giờ búi tóc cho
ta như hôm nọ mày đã học búi đó, rồi, nhất là từ nay, chớ nấp ở cửa
mà nghe lỏm nữa.
- Thưa bà, vâng. Nhưng bà sẽ không bao giờ đồng ý như thế, có
phải không ạ?
- Mày dở hơi lắm! Hẳn là không, không bao giờ ta đồng ý. Bán
thằng Harry thì cũng như bán đứa con ta đẻ ra. Thật tình mà nói,
Eliza ạ, có thằng bé, mày đâm ra làm bộ làm tịch quá lắm. Động có
người lái buôn đặt chân đến nhà, là mày tưởng người ta đến để mua
con mày.
Eliza yên trí, cười vì nỗi lo sợ vừa qua của mình. Chị sửa bộ áo
cho bà chủ, khéo léo như thường ngày.
Bà Shelby là một phụ nữ có phẩm chất hơn người. Vốn có một
tấm lòng độ lượng như tất cả phụ nữ ở Kentucky, bà còn có thêm ý
thức rất cao về đạo đức tôn giáo. Những nguyên tắc của bà, bà thực
hiện nghiêm chỉnh, chồng bà chẳng theo một dòng đạo nào nhưng
vẫn tôn trọng lòng tin đạo và những ý kiến của bà. Ông hoàn toàn để
mặc bà làm mọi việc nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
cho những người nô lệ.
Sau câu chuyện trao đổi với Haley, ông Shelby thấy mình có
nhiệm vụ phải cho vợ biết dự định thu xếp công việc của mình. Ông
cũng có những lí lẽ để dự đoán rằng vợ ông sẽ phản đối kịch liệt.
Bà Shelby chỉ hiểu chồng có một tấm lòng thương người, chứ
không biết gì về sự dàn xếp công việc như trên của ông, nên bà rất
chân thật khi tỏ ý không tin những lời ngờ vực của Eliza. Sự thật, bà
chẳng chú ý đến việc ấy nữa; bà bận rộn sắm sửa để đi thăm bà con
tối hôm ấy.
2
NGƯỜI MẸ
E
liza được bà chủ nuôi nấng nuông chiều; chị được bà thương
yêu hơn cả. Những ai từng đi thăm miền Nam, ắt phải nhận
thấy rằng những người phụ nữ lai da đen có những nét rất
thanh, có giọng nói và dáng điệu dịu dàng. Ở những người phụ
nữ lai một phần tư, cái duyên dáng tự nhiên ấy thường lại kết hợp với
một vẻ đẹp lộng lẫy.
Eliza được bà chủ che chở; chị đã lấy chồng, một thanh niên lai
da đen thông minh; anh là nô lệ trong một đồn điền bên cạnh, tên anh
là George.
Chủ anh cho một nhà máy sản xuất bao tải mướn anh làm công
nhân. Chàng thanh niên được coi là người thợ giỏi nhất nhà máy.
Anh khéo léo, lại có tài; anh đã sáng chế được một cái máy tước vỏ
cây gai. Với trình độ học thức ít ỏi, trong hoàn cảnh sinh sống khó
khăn, quả đó là một tài năng về cơ khí chẳng kém gì Whitney đã hoàn
thành cái máy lọc hạt bông của mình[3].
George là một thanh niên đẹp trai, dáng điệu dễ thương; cả nhà
máy yêu mến anh. Nhưng, dưới con mắt của pháp luật, người thanh
niên ấy không phải là một con người, mà là một đồ vật, và tất cả
những phẩm chất cao quý của anh đặt dưới quyền kiểm soát của chủ
anh, một người tầm thường, độc đoán và thiển cận. Khi hắn ta nghe
tin George phát minh được một cái máy, hắn đến nhà máy để xem cái
đồ vật có trí óc ấy đã làm nên trò trống gì. Ông giám đốc niềm nở tiếp
hắn và hoan nghênh hắn có được một người nô lệ đáng quý như vậy.
Người ta dẫn hắn đến nhà máy và nghe George thuyết minh cái
máy của mình. Giọng nói của anh hùng hồn, dáng điệu chững chạc,
cử chỉ đường hoàng khiến tên chủ có cái cảm giác khó chịu, thấy kém
anh về mọi mặt. Một thằng nô lệ của hắn có quyền gì mà lại có thể đi
khắp đó đây, mặt thì vênh lên, và lại sáng chế máy móc nữa? Đã đến
lúc phải chấm dứt đi thôi, phải lôi nó về nhà, bắt nó làm việc ruộng
nương. Bởi vậy, ông giám đốc và tất cả thợ thuyền đều kinh ngạc khi
nghe gã chủ nô lệ đòi tiền thuê anh George và báo tin là hắn muốn
mang anh về.
Ông giám đốc phản đối:
- Kìa ông Harris, quyết định của ông hơi đột ngột phải không
ông?
- Đột ngột đã sao? Cái thằng ấy không thuộc về tôi sao?
- Chúng tôi dự định tăng lương cho anh ta.
- Thưa ông, vô ích. Tôi không hề bắt buộc phải cho thuê nô lệ của
tôi khi tôi không muốn.
- Nhưng, thưa ông, anh ta rất hợp với công việc nhà máy.
- Tôi cũng tin như thế; nhưng ở nhà tôi, khi tôi bảo nó làm thì nó
chẳng chịu khó tí nào.
Một người thợ nói chen vào, không đúng chỗ:
- Ông nên nghĩ là anh ấy đã sáng chế ra cái máy này.
- Đúng. Một cái máy giúp nó tránh được việc lao động có phải
không? Thật giống nó như hệt, bao giờ chẳng thế. Thằng da đen nào
mà chẳng muốn trốn lao động. Sự thật, cái bọn da đen, đứa nào cũng
là những cái máy tránh lao động. Không, tôi mang nó về.
George đứng lặng người khi nghe bản án do một quyền lực độc
đoán tuyên bố. Hai tay anh khoanh lại, môi mím chặt; anh thấy một
sức phản kháng vùng dậy sôi sục trong lòng. Hơi thở dồn dập, đôi
mắt đen lánh tóe ra những tia lửa. Nếu ông giám đốc không nắm lấy
tay anh mà khẽ thì thầm bảo anh thì anh đã có những hành động
phản kháng dại dột:
- Anh George ạ, anh cứ để người ta làm gì thì làm; trước hết, cứ đi
theo ông ta. Sau này, chúng tôi sẽ liệu đưa anh trở lại đây.
Lời thì thầm ấy không qua được mắt gã độc đoán; hắn đoán biết
được ý nghĩa của câu nói thầm, và điều đó chỉ làm cho hắn kiên quyết
hơn.
...
 





