CÁC CA KHÚC KỈ NIỆM NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC
Quãng đời đánh mất

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 16h:47' 17-11-2024
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 16h:47' 17-11-2024
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Mặt trời mù sau lớp mây bạc, nhưng vòm trời và mặt đất trắng
ánh lên. Các đồi cây đan tiêu hớn hở nô giỡn trước gió, ném vào
không trung ngọn lửa cuồng nhiệt và thất thường của những vòm lá
đỏ như đồng. Trên con lộ chạy vắt qua những trái đồi ngoại ô, chợt
xuất hiện một cỗ xe thổ mộ. Nó tiến thẳng vào thành phố, tiếng vó
ngựa và tiếng lục lạc mỗi lúc mỗi rõ dần.
Lão già Ngạn dỏng tai nghe. Rồi từ trong bếp, hấp tấp lao ra sân,
đưa mắt dõi theo, cỗ xe ngựa vượt qua tòa biệt thự trắng, xưa là
nhà nghỉ của quan công sứ Pháp, nay lũ trẻ đọc sách và chơi đu
quay. Rồi cỗ xe lăn qua khuôn viên, khu trường phổ thông, nhà trẻ...
Vượt qua hai cánh cổng để ngỏ của lão, nó đi hút về cuối phố. Lão
già bất giác thở dài, đôi vai như còng xuống. Từ mảnh sân bên kia,
phân cắt bởi hàng đỗ leo, một ông già cao lớn bước sang. Đưa mắt
nhìn khuôn mặt ủ ê của lão Ngạn, ông cất tiếng:
- Thôi đi, đừng mất công vô ích. Về được, nó khắc về.
- Nhưng tôi nóng ruột...
Lão Ngạn đáp, vẻ hằn học không che đậy: Ông có con đâu mà
ông biết xót?...
Ông già hàng xóm không mảy may phật ý, đáp:
- Tôi không có con nhưng trên đời này chẳng riêng ông được
quyền làm cha. Không người cha nào xử sự như ông cả...Nhưng
thôi, đừng cãi cọ nhau buổi sớm. Pha ấm trà đi.
Nói xong, ông kéo ghế ngồi, đôi chân bắt chéo lại. Lão Ngạn súc
ấm, bỏ trà pha nước mới. Vừa làm, lão vừa nghĩ: Lúc nào hắn cũng
đàng hoàng, mạnh mẽ hơn ta. Dù ngồi ở xó rừng hay ngồi trên ghế
của người khác...Trông kìa, dường như chính hắn mới là chủ nhân
ngôi nhà này, bộ bàn ghế mây đáng tiền này, cả bình trà bằng sứ đời
Thanh này nữa. Đến con trai ta cũng thuộc về hắn. Nó tin hắn như
dân đạo tin Chúa Jesu. Cái thằng khốn...
Ông già láng giềng vẫn ngồi yên lặng, mắt đăm đăm nhìn dãy đồi
đan tiêu nơi chân trời. Tóc ông dày và đen, lưng thẳng. Lão Ngạn
đặt bình trà xuống bàn:
- Được rồi đây.
Ông già rót nước:
- Ông uống luôn cho nóng.
Lão Ngạn gật đầu:
- Phải...Nhưng tôi vào bếp đã. Chặn lại cái thớt kẻo sổng mấy
con cua. Chúng nó cạo nồi cả đêm, không ngủ được.
Lão vào bếp vì không muốn người láng giềng đọc được ý nghĩ
của mình. Thực tình, lão căm ghét ông Hai đến mức thầm ước rằng
bỗng dưng có cơn gió độc thổi tới, ông Hai trúng phong ngã lăn
quay trên mảnh sân này, lão sẽ hả hê bao nhiêu. Trong chiếc nồi
đồng lớn, lũ cua biển giương những đôi mắt lồi tí xíu nhìn lão. Móng
cua sắc cạo xào xạo nghe rợn tai. Bất chợt, lão già đập chiếc thớt
gỗ lên miệng nồi:
- Lũ khốn, trưa nay ta đem luộc ráo.
Lão quay ra sân. Ông già Hai đã uống xong chén trà, khoan thai
bước về mảnh sân bên kia. Lão Ngạn nhìn theo, nghẹn cổ. Trưa
hôm ấy, lão luộc cả mớ cua biển. Một mình, ăn mãi tới nửa đêm mới
hết. Dù uống nửa lít rượu, lão vẫn bị đau bụng. Từ hai giờ rưỡi đêm,
lão chạy đi chạy lại từ nhà trên xuống chuồng tiêu như con thoi. Lũ
nhặng đêm kêu như ong trong không, gian hôi thối. Lão đành uống
năm viên rửa có á phiện. Rồi sau đó, khoảng bốn giờ sáng, lão ngủ
thiếp đi cho tới non trưa ngày hôm sau. Giữa đám sương bồng
bềnh, lãng đãng những vệt nắng vàng. Lão già nghe tiếng xe lăn
ngoài phố. Lần này, xe dừng lại trước cổng. Đứa con trai bước
xuống, nện gót giày trên sân:
- Chào ba, con đã về.
Nó giơ cao chiếc mũ dạ xanh thẫm, đính mỏ neo vàng. Mắt lão
hoa lên. Lão ngắm nghía bộ đồng phục bó sát tấm thân trai trẻ của
nó, nước mắt rớt xuống má...
- Thình thình...thình...Thình thình...
- Ba ơi i i...
Hai cánh cửa rung bần bật. Và giọng một người đàn bà:
- Chú Hai, ba cháu ốm à?
- Không rõ. Đêm qua tao thấy ông ấy chong đèn tới ba giờ sáng.
- Mọi ngày ông cụ tỉnh ngủ lắm, ho khẽ đã trở dậy rồi.
- Có thể ngủ mệt không nghe được.
- Cháu phá cửa đây.
- Hãy gọi thêm lát nữa xem sao?...
Tiếng gọi cất lên:
- Ba ơi, ba ơi i i...
Lão Ngạn rùng mình. Không phải tiếng nói của thằng Cường,
đứa con trai lão chờ đợi. Giọng của một người đàn bà, như từ cõi
âm vọng tới. Lão già cố mở mắt, nhìn thấy cánh tay xanh nhợt của
mình vắt trên ngực. Lão cố định thần, lắng nghe tiếng gọi:
- Ba ơi...
Lão Ngạn thầm kêu:
- Con Bích.
Rồi chống tay ngồi lên, lão lê từng bước ra mở cửa. Bàn tay lão
lạnh ngắt, run run đặt trên quả đấm sứ:
- Tao đây.
Cánh cửa bật mở. Cô con gái kêu:
- Ba làm sao vậy?
Thay vì trả lời con, lão Ngạn quay sang người hàng xóm:
- Tôi bị tháo dạ, vì lũ cua biển hôm qua.
Ông Hai hỏi:
- Ông có cần thuốc không?
- Không. Giờ cầm rồi.
- Có cần gì thì gọi tôi.
Người láng giềng quay đi. Lão Ngạn lần về giường nằm, chút
nữa bật tiếng rên thất vọng:
- Mình mong thằng bé. Lại hóa ra con trời đánh này.
Lão đã kịp nuốt những lời đó vào họng. Kê đầu trên tấm gối sa
tanh cáu ghét, lão he hé mắt nhìn đứa con gái người vợ trước. Bích
đang xếp mấy hộp bánh lên bàn, lưng xây lại. Vai xuôi, lưng núng
nính: Sao nó giống mụ ta đến thế?...Ba mươi tuổi đã phát phì. Hai
năm rưỡi, biệt tăm tích. Hẳn có chuyện gì mới dẫn xác về đây...
- Ba già rồi, ăn cua làm gì cho sinh chuyện?...Giờ ba đã đỡ
chưa?
- Chưa.
- Con nấu cháo nhé?
- Thôi.
- Thế thì cụ nghỉ đi. Rồi có việc phải giúp con đấy... Bây giờ, con
rửa mặt đã...
Nói xong, cô con gái rút chiếc khăn bông trong làn, ra sân sau.
Lão Ngạn nằm nghe tiếng trục quay cọt kẹt, tiếng gầu va vào thành
giếng, và tiếng nước xối xuống thau. Bất chợt, lão bật tiếng rên:
- Trời hành ta. Sao nó giống mụ ấy đến như vậy?...
Một gương mặt luôn luôn đỏ rực. Cặp môi ướt dầy và cháy
bỏng. Đôi mắt nhỏ đờ đẫn, người biết xem tướng thường gọi là Trư
nhãn, lúc nào cũng phủ làn khói của cơn say ái ân. Phải, gương mặt
ấy đã hiện ra trong ánh sáng nhập nhoạng của một rạp chiếu bóng,
năm lão mười chín tuổi. Lúc ấy, lão là một chàng trai khờ khạo. Cậu
ấm Ngạn, con trai thứ bảy trong đàn con chín đứa của ông thủy sư
đô đốc. Kết quả của một cuộc mây mưa trong cơn say rượu, Ngạn
oèo oặt từ nhỏ. Mẹ anh đã nuôi anh bằng sữa cộng với nhân sâm.
Cha anh, bù lại cho con phần thiếu hụt thể lực và hình thức đã cho
anh một hiệu đại lý thuốc tây từ năm anh mười tám. Năm sau, Ngạn
mười chín, nhân dịp Tết Nguyên tiêu, ông lại cho anh quyền sở hữu
một cửa hàng kem có hai máy. Với gia tài đó, Ngạn trở thành con
mồi khiến tất cả các gia đình có con gái lớn trong thành phố thèm
khát. Người ta săn đuổi anh tứ phía. Nhưng anh vẫn còn là một
thiếu niên to xác: thích xem phim Tác-dăng, thích đánh tam cúc và
bài tây ăn tiền với đám trẻ quanh nhà. Anh đi chơi với đám trẻ, lộc
ngộc như con gà trống giữa bày gà choai, ngang nhiên gác chân lên
hàng ghế chuồng gà trong rạp hát, ngang nhiên mút kem rong trên
hè phố, ngang nhiên hát những bài hát tục tĩu tụi lính kèn du nhập
vào phố biển...Bỗng dưng, một tối, trong rạp chiếu bóng, có ai đó áp
bộ ngực nóng hổi vào lưng Ngạn. Chàng trai giật thót người, quay
lại. Và anh hoàn toàn sửng sốt khi thấy trước mặt mình hiện ra một
gương mặt thiếu nữ. Ngạn không nói được gì, há miệng nhìn. Cô
gái cười, hai má đỏ như gấc chín. Rồi cô nói, tự nhiên:
- Đổi vé cho em nhé, đầu anh cao thế em làm sao xem được?...
Trong thành phố không gia đình nào dám cho con gái đi xem
phim cao bồi. Vì thế, Ngạn bàng hoàng mãi như mê ngủ. Khi anh
chưa đáp lời, cô gái lạ đã đặt bàn tay lên vai anh:
- Nào, đi đi...
Chàng trai mềm nhũn ra tức khắc, theo bàn tay cô gái điều khiển
ngồi xuống chiếc ghế phía sau. Buổi xem phim ấy, Ngạn như bị ma
ám. Người anh lúc nóng bừng, lúc lạnh toát tùy thuộc vào những
tiếng thì thầm, những nụ cười, những cái va chạm nhẹ nhàng nhưng
đầy nhục tính. Hình ảnh những anh chàng vạm vỡ, phi ngựa như
gió, phóng dao và bắn súng lục thiện nghệ không còn hút hồn anh
như xưa. Anh đã bị chi phối bởi một gương mặt khác...Nụ hôn đầu
tiên cô ta ban phát cho anh, sau tấm phông rách lỗ chỗ và nhàu nát
của một gánh hát rong, vừa cay vừa mặn vì có mùi thịt bò khô nộm
đu đủ. Cô bá cổ anh, cọ bên má nóng rực vào má anh, thì thầm:
- Thích không?...
Rồi cô chìa cho anh một nắm lạc ngọt của người Tàu, dặn:
- Mai anh mang nhiều tiền đi, chúng mình đến tiệm chú Voòng.
Hôm sau, anh theo cô tới tiệm chú Voòng, một quán ăn thụt sâu
trong ngõ, cái ngõ đó nằm giữa khu phố cổ mà anh ít bén mảng tới.
Quán nhỏ, bốn bức tường quét vôi vàng nhờn mỡ và các vết ố, lúc
nào cũng quần tụ một thứ khói hương trầm lẫn khói đèn dầu hỏa.
Chủ quán lẫn những người phục vụ đều béo tốt, nhớp nhúa và hiện
ra trong làn ánh sáng vàng vọt như những bóng ma. Ngạn sợ, anh
bảo cô:
- Tối quá. Mình tìm hiệu ăn khác ngoài phố.
Cô bĩu môi:
- Ngốc. Quán chú Voòng ngon nhất cảng.
Anh chàng nhát nhúa ngồi im. Cô bắt đầu gọi các món ăn, không
cần bảng thực đơn. Những tiếng “Dạ” kéo dài vọng giữa đám hơi
nước mù mịt trong bếp. Và sau đó, người hầu bàn mặc quần áo Tàu
vải thô, lần lượt bưng lên. Cô nói đúng, các món ăn ở cái tiệm kỳ
quái này ngon nhất thành phố biển. Chốc lát, một tay thủy thủ già,
dáng trụy lạc hoặc một gã trai da xanh mướt bước vào, lẳng lặng
ném mũ xuống bàn và ngồi tựa vào bức tường dơ dáy với dáng điệu
của kẻ sắp trẫm mình.
- Dạ, ông dùng gì?
- Tiết kẻ tử tù.
- Dạ, vâng Boóc-đô. Có ngay. Và sau đó?
- Cồn bóp tim.
- Rượu mạnh, thưa ông, có thứ thượng hạng đấy.
- Cậu dùng như mọi bữa?
- Không. Súp-lơ trắng với nấm hương.
Ngạn ngơ ngác, anh hỏi cô rằng tại sao người ta tìm được rau
súp-lơ giữa mùa này?...Cô cười và giải thích cho chàng công tử
hiểu súp-lơ trắng nghĩa là những chiếc chân vịt rút xương tẩm bột
trứng rán giòn lên, hình giống những miếng súp-lơ thái mỏng. Cô
còn giải thích cho anh nhiều điều nữa, tất cả mớ từ ngữ và kiến thức
của các tiệm ăn đen, các quán trà đen, các ngõ tối nơi tụ hội những
số kiếp oái oăm, cắc cớ nhất của cõi đời. Trong mê cung của cô,
cậu ấm Ngạn không còn tìm thấy lối ra. Người thầy đầu tiên về tình
ái bao giờ cũng là người nắm giữ sinh mệnh học trò đối với những
tâm hồn yếu mềm, trơ trọi.
Cậu ấm Ngạn vốn trơ trọi về đời sống tâm linh, cậu đã đi theo cô
như một kẻ tòng phục Ngọc Bảo, tên cô. Một căn nhà gỗ ven chợ
nơi trú náu của mẹ con cô. Ngạn đã tới...
Tiếng chân bước của đứa con gái khiến lão giật mình. Bích cất
giọng hỏi:
- Sao ba không ngủ đi?...
Lão Ngạn đưa mắt nhìn Bích:
- Mày về đây có việc gì?
Cô gái ngồi xuống ghế:
- Sao ba hỏi con thế?
Lão già nhắc lại bướng bỉnh:
- Mày về đây có việc gì?
- Thăm ba, điều đó không được hay sao?
- Hai năm rưỡi trời mày không có lấy một dòng chữ, thăm nom
gì.
- Con bận. Có phải suốt ngày ngồi ngóng ra ngõ như ba được
đâu?
- Tao không ăn đến hạt cơm của mày. Ngồi hay đứng là quyền
của tao.
Cô con gái nhìn bố hồi lâu, hạ giọng:
- Thôi, ba bỏ qua cho con. Ba khó tính khiếp lên được.
- Mày cần gì tao?
- Ba già quá rồi, không nên ở hiu quạnh mãi thế này. Lúc trái gió
trở trời, con và em Cường làm sao biết được?
- Tao đã ở một mình mười mấy năm nay. Mày không cần lo.
- Mọi việc khó khăn nhờ cậy chú Hai. Nhưng ba không thể nhờ
chú ấy mãi.
Lão Ngạn nhỏm dậy:
- Tao không cần nhờ cậy ai hết.
Bích cười nhạt:
- Thôi, ba nằm xuống đi.
Lão Ngạn chống tay nhìn con. Nụ cười còn đọng trên cặp môi
dày của cô ta. Nụ cười khinh thị và hiểm độc. Cặp môi không trộn
lẫn được với bất kỳ cặp môi nào khác, với lớp da mọng như ứ máu,
nét gợn nơi khóe mép, hứa hẹn no nê tình dục và ẩn giấu những lời
lẽ nhọn như gai đâm. Hơn ba năm trước, mỗi nụ cười ấy kéo theo
một cơn xốc của lão, những tràng ho bỏng rát lồng ngực, và lão cúi
xuống, cúi xuống chiếc ống nhổ sứ trắng miệng loe đặt cuối
giường...từng dòng máu đỏ vọt ra.
- Mày cút khỏi đây...
Lào Ngạn rít lên, trước khi nằm vật xuống giường. Bích đến gần
bố nhìn hồi lâu gương mặt xám ngoét, cạn kiệt sinh khí và in rõ
những nét hằn đau khổ. Cô ta hối hả chạy sang sân bên kia:
- Chú Hai ơi, chú sang xem giùm. Ba cháu vừa ngất...
- Chờ tôi lấy túi thuốc. Lại cãi cọ nhau phải không?...Lần nào cô
về ông ấy cũng ngất. Tại sao?...
°°°
Trời tím dần một cách mau lẹ rồi sau đó, các lớp mây tro tan vào
mặt sóng. Không còn gì ngoài một vệt đen thẫm chạy vòng quanh
chân mây. Phía trên vành cung đen ấy, trời lục, nhẹ như khói với
dăm bảy vì sao tan vụn ra thành bụi, sau đó chúng hợp lại và chuẩn
bị cho một lần tan vỡ khác. Anh nhấm nháp từng hột lạc rang cháy.
Anh nhấm nháp như thế từ chiều khi nhận chân gác tàu cho anh em
lên thành phố.
Túi lạc đã vơi quá nửa, Cường rút cuốn sách trong ngăn kéo
dưới giường ngủ. Cuốn sách nhàu nát, sực mùi dầu máy mùi mồ hôi
và mùi tanh khó tả của tất thảy những con tàu. Cường lật trang 87
đánh dấu bằng mảnh nhựa mỏng anh vẫn dùng gảy ghi-ta. Chuyện
kể về vụ án mà tội nhân là người da đỏ. Y đã từ bỏ xứ xở của mình,
đã tìm đủ phương pháp để xóa đi màu da, dấu vết tổ tông, âm sắc
của tiếng nói mẹ đẻ để rượt theo kẻ thù từ Châu Mỹ qua Châu Úc,
từ Châu Úc qua Châu Âu và cuối cùng hạ thủ y trong một lâu đài đổ
nát vùng Scốt-len. Cường đặt cuốn truyện lên gối, đọc tiếp. Đoạn
văn miêu tả cảnh tên tội đồ trở lại vùng quê, sau khi đã đạt được
mục đích cuộc trả thù:
“...Trăng sáng đến nỗi y thấy lạnh. Trăng là một thứ tuyết đá tan
chảy, nhuốm bụi vàng. Y lột giầy, đạp trên cỏ nháp, nghe những
ngọn cỏ sắc cọ vào lớp da chân đã mỏng qua nhiều năm quen đi
giày. Hồi bé, y đã lăn trong cỏ, chơi đùa như chú ngựa non. Hồi đó,
Hét-tơ thường mang cho y những miếng bánh ngô tẩm mật ong ngọt
sắc. Hồi đó... thôi dừng thèm nghĩ tới tuổi thơ vì những ý nghĩ ấy chỉ
làm cho người đàn ông yếu lòng. Cái chính là phải sống cho tương
lai... Tương lai... Y ngước nhìn những ngọn núi chọc vào bầu trời
như răng cá sấu. Chưa ở nơi nào, núi có hình dáng ghê rợn như
những ngọn núi quê hương. Các thớ đá bóng như sừng mà ánh
trăng quét lên lượt nhũ vàng thấm trên các khe núi âm u đâm vào
tim con người như lưỡi dao. Còn những con thác nhỏ óng ánh, chảy
như reo. Y ngồi phệt xuống cỏ, nhìn mãi. Ngày hôm nay, ở các lữ
quán dọc đường bộ hành, những người dân xứ xở này đều chối bỏ
y. Họ không chấp nhận gã đàn ông để ria kiểu Anh, mặc bộ đồ như
những tay bán thịt ngoại ô Luân-đôn và đi đôi giày giá một trăm năm
mươi bảng. Còn y, khi trở lại núi non này, ngồi xuống cỏ, y thấy mình
tan hòa vào núi, vào cỏ, vào ánh trăng, vào khí trời xứ xở. Những
thành phố trong ký ức rơi lả tả như tàn tro: Nào Săng-chi- a-gô, nào
Niu-ước, nào Pa-ri, nào Luân-đôn, Cai-rô, Síp... Tất thảy chỉ là các
phòng trọ với khung cửa vuông, bồn rửa mặt hoặc sạch sẽ hoặc
nhơ bẩn, tấm chăn dấp và chiếc giường,... Không, y vẫn chỉ là đứa
con của xứ xở này. Bởi vì khi y từ bỏ màu da, y phục, tiếng nói của
mẹ đẻ, chính là để cho tái cả ân huệ và tai ương của tổ tông sống
lâu bền mãi mãi trong huyết quản y, trong tâm hồn sâu kín của y, và
trong mối thù độc địa của y... ”
Một tiếng quát thô lỗ vang lên, cắt dứt những dòng chữ:
- Đồ con lợn, mày không tìm được trò gì khác hay sao mà suốt
ngày ru rú như con lợn chờ xuất chuồng thế này?
Cường chưa kịp trả lời, Đính đã xô anh vào sát vách. Đính ngồi
xuống giường, lột đôi giày và đôi tất ném vào góc phòng. Hai bàn
chân anh ta bốc mùi thối. Cường quay đi. Đính đã thấy. Anh ta cười
gằn:
- A, chân tao thối lắm phải không?
Cường im lặng không đáp. Nhưng Đính đã túm tóc anh, quay
mặt anh lại và nhìn chằm chăm vào mắt anh bằng đôi mắt vằn đỏ tia
máu:
- Công tử Cường không chịu được mùi chân thối. Công tử quen
hít nước hoa. Thế mà dân đi biển thì chỉ bốc lên mùi tanh và mùi
thối.
Hơi thở Đính nồng nặc rượu. Hẳn anh ta đã uống liên miên suốt
buổi chiều, cả tàu, không ai uống rượu như Đính. Anh ta có thể nốc
hai ba lít rượu trong một ngày. Nếu lượng rượu đó làm người khác
đứt mạch máu não thì chỉ khiến Đính đập tan chiếc cối đá, đạp bẹp
dí chiếc xoong nhôm dày năm ly rồi sau đó ngủ liền hai ngày không
nhúc nhích. Cường ôn tồn nói:
- Anh về phòng ngủ đi.
Đính trừng mắt:
- Mày đuổi tao về, phải không?
Cường lắc đầu:
- Anh mệt rồi. Anh đi ngủ cho dễ chịu.
- Tao không muốn ngủ, tao ngồi đây dễ chịu hơn.
- Vậy thì tùy anh.
Cường đáp, cầm cuốn truyện định đọc tiếp. Nhưng Đính giật
cuốn sách trên tay anh:
- Mày không thèm nói chuyện. Mày khinh tao phải không, thằng
nhãi?
- Nhưng tôi biết nói chuyện gì với anh bây giờ? Anh say rồi.
- Tao mà say à?... Này, bố bảo cho con biết, ba mươi năm nữa
bố cũng chưa say.
- Anh Đính.
Cường gần như van vỉ:
- Tốt nhất là anh nên đi ngủ, cho dịu thần kinh. Anh uống nhiều
hơn cả lần trước đấy.
Đính không nghe Cường nói. Mắt anh ta đỏ vằn. Những đường
gân xanh tím bằng chiếc đũa nổi lên trên cần cổ vạm vỡ:
- Thằng nhãi... Tôi biết nói chuyện gì với anh bây giờ?...Mày
khinh tao. Mày khinh tao từ lâu rồi...đừng hòng che dấu điều đó.
Bàn tay cứng như thép của anh ta bóp chặt cổ Cường lắc như
lắc chai rượu:
- Mày là thá gì mà dám khinh tao?... Lẽ ra, tao phải bóp cổ mày
như bóp một con nhái mà quảng xuống biển. Cái điệu bộ của mày
chỉ đáng làm thằng thợ may suốt ngày kéo thước dây đo đùi đo đít
lũ đàn bà. Cái mớ chữ nghĩa trong đầu mày đem mà bán lấy vài
đồng xu rỉ. Đối với dân đi biển, mớ chữ nghĩa ấy không đáng là mớ
giẻ cọ sàn tàu.
Nước bọt của Đính phun ra bắn vào mặt Cường. Anh không
dám đưa lay lau.
Cử chỉ đó sẽ kích động Đính và khiến gã đánh đập anh tàn nhẫn
hơn. Con người này, khi đã lên cơn hung bạo, không gì kiềm chê
nổi.
Vả lại, tay gã xiết chặt cổ anh như hai gọng kìm. Chàng trai
nhắm mắt, anh không dám nhìn lâu bộ mặt đỏ rực của Đính, với hai
nhãn cầu lồi lên như mắt cá vàng chạy ngoằn ngoèo những tia máu.
Đính thở hào hển, những tràng chửi rủa tuôn xối xả:
- Bao lâu nay, chúng tao đã chịu dựng mày như chịu chở theo
tàu một cái xác thối, cả mày, cả những bãi nôn vàng ệnh của mày,
bộ mặt tái xanh tái tử của mày... Tất cả đều làm ngứa mắt tao. Biển
không cần thứ mèo ốm mặc áo thủy thủ. Biển chỉ cần những thằng
đi biển thật như tao. Mày hiểu chưa? Thằng thối thây...loài ăn bám.
Hết tràng chửi rủa, chừng đã hả cơn tức, Đính buông Cường ra.
Anh ta nhếch môi cười, bọt sùi trắng xóa. Một dòng nước bọt chảy
từ mép Đính xuống cằm. Anh ta đưa tay chùi, đoạn quẹt bàn tay dây
đầy nước rãi vào môi Cường. Cường định giơ tay đẩy Đính ra,
nhưng kinh nghiệm của những lần trước khiến anh phải buông
thõng cánh tay xuống. Chàng trai ngồi im, cố chịu đựng cơn say của
Đính, vẻ cam chịu của anh khiến gã dịu đi. Gã nhổ bọt phì phì, tỏ vẻ
khinh miệt. Rồi, móc túi lấy một nắm tiền, gã ném vào mặt Cường:
- Cầm lấy, vào phố mua rượu cho tao. Nửa tiếng nữa chưa
mang rượu về tao sẽ cho mày nếm bã trầu.
Cường nghĩ: Đây là dịp tốt nhất để mình thoát khỏi hắn. Anh
cầm tiền, xách chiếc vỏ chai, lên cầu tầu. Đính co chân đạp gối và
cuốn sách của chàng trai xuống sàn, nằm vật ra. Phút đó, gã còn
ném theo chàng trai một cái nhìn thù ghét, cay độc. Cường leo qua
cầu tàu, xuống bến. Anh đi về phía khu nhà bảo vệ cảng, múc nước
trong phuy, rửa mặt.
Ông già gác cảng hỏi vọng ra:
-Ai thế?
- Cháu, Cường đây. Cháu xin ít nước rửa mặt.
- Sao không vào bể trong này, nước ấm hơn.
Tiếng ông già khàn như bị viêm phế quản. Thanh âm vọng trong
không gian yên tĩnh. Nước ấm hơn... Cường bỗng trào nước mắt.
Anh vốc nước rửa mãi vết nước rãi nhơ nhớp của gã say trên môi,
rửa cả những dòng nước mắt nóng hổi tràn xuống hai má... Lúc ấy,
trên khoảng xi- măng trống vắng, có một người đàn ông bước tới.
Anh ta cao lớn, vóc dáng chắc chắn với những bước đi sải dài, đều
đặn. Người đàn ông dừng lại trước khu nhà bảo vệ một lát, chăm
chú nhìn và nhận ra Cường. Anh bước tới sau lưng chàng trai:
- Cường.
Chàng trai sực tỉnh, ngẩng đầu lên. Anh nhận ra thợ máy trưởng
Bá. Bá ngạc nhiên hỏi:
- Sao cậu xuống đây?
- Anh Đính đang ở trên tàu. Anh ấy bắt em đi mua rượu.
- Lại thằng Đính. Nó có gây sự với cậu không?
- Không.
Cường đáp. Nhưng chính anh và Bá đều hiểu rằng đó là một câu
nói dối. Hai người im lặng. Rồi Cường nuốt nước bọt, hạ giọng:
- Chuyện ấy...anh đừng để tâm. Anh ta cũng có lý.
-Lý gì?
- Vì…vì em là kẻ vô dụng. Còn Đính, dù có bao nhiêu thói xấu
vẫn là một thủy thủ giỏi. Tầu cần anh ta.
Bá dằn giọng:
- Cậu thật lạ lùng... Tôi không hiểu...
Anh bỏ lên tàu. Bóng anh lướt qua khoảng không màu lục treo lơ
lửng giửa trời với cây cầu tàu lắt lẻo. Cường ngồi xuống kè. Đá
thấm hơi sương làm ẩm lớp vải quần. Chàng trai khẽ rùng mình vì
lạnh. Anh khoanh hai tay, dựng cổ sơ mi lên. Lúc đó, một câu hỏi
quen thuộc lại lởn vởn trong tâm trí:
- Tại sao?...
Tại sao gã đàn ông tàn bạo ấy thù hằn anh? Tại sao anh phải
cam chịu sự hà hiếp trơ tráo của gã? Tại sao mọi cố gắng hòa dịu
của anh và thiện chí của những người xung quanh hoàn toàn vô
nghĩa. Càng ngày, mối thù độc địa của Đính với anh càng cay nồng
và luôn luôn, trong đôi mắt vằn máu của gã, hiện lên ước muốn điên
cuồng và âm hiểm của kẻ sát nhân... Bất giác, chàng trai đưa hai tay
ôm đầu. Anh nhớ lại buổi chiều hôm ấy, một chiều hè ấm nóng cách
đây đã ngót năm năm. Tàu cũng neo tại bến này. Lúc đó khu nhà
bảo vệ chưa xây lại, chỉ là một gian nhỏ lợp ngói xi măng đen sỉn.
Hàng đã dỡ xong, chờ ăn hàng mới. Đám thủy thủ tụ họp trên boong
vì buổi tối có cuộc tổng kết các chuyến đi trong ba tháng qua. Họ
vẫn còn thèm xuống phố chơi, nên ai nấy nhấp nhỏm mong tàu
trưởng từ tổng công ty tàu biển trở về. Vài anh sắm sửa đồ đạc, là
quần áo. Vài anh ăn mặc tươm tất, đứng hóng gió. Còn tất cả xúm
quanh Tuấn hói, danh ca của đám thủy thủ cảng. Tuấn hói ngoại bốn
mươi, to béo, bụng bắt đầu phệ, tóc chỉ còn một vành đai bao từ hai
tai tới gáy. Anh ta khỏe hơn bất cứ người đàn ông nào cùng lứa tuổi.
Trí nhớ tốt, thuộc bài hát, có giọng hát nghiệp dư nhưng cũng khá
điêu luyện, sổ tay anh ta có ảnh các ca sĩ nổi tiếng trong và ngoài
nước. Ngoài ảnh của các ca sĩ là ảnh đàn ông khỏa thân. Tuấn hói
có cái thú kỳ lạ là sưu tập ảnh đàn ông khỏa thân. Tới thành phố
nào anh ta cũng lùng sục, mua bằng được.
Trong va ly quần áo của anh ta có tới sáu cuốn sổ ngoại, hàng tư
bản đờ-luých, cực kỳ đắt tiền và đẹp. Sáu cuốn sổ đầy ắp ảnh ca sĩ
và đàn ông khỏa thân, vừa màu, vừa đen trắng. Anh ta buôn giỏi và
có kha khá tiền vì ngoài thú chơi ảnh và gảy đàn, anh ta không ham
mê gì khác. Hình như Tuấn hói đã có vợ con ở nhà quê, quê anh ta
ở một làng xa tít mù khơi tỉnh Thanh, nhưng Tuấn mập mờ lảng
tránh mỗi bận đụng chạm tới điều đó nên cũng không ai rõ thực hư.
Nói chung, Tuấn hói là một người đàn ông dễ chịu, ngoại trừ thói ăn
cắp vặt. Anh ta không thể từ bỏ thói quen đó. Cứ trông thấy vật gì đó
khả dĩ, dù chiếc bật lửa, chiếc đồng hồ đeo tay, cuốn an- bom xinh
xẻo, thậm chí hộp kẹo cao su của ai hớ hênh, Tuấn hói phải lấy cho
kỳ được. Anh ta không thiếu nhưng thích lấy của người khác. Thế
thôi. Đó là một căn bệnh, và đám thủy thủ, vì cuộc đời lênh đênh
sóng nước cần tới sự liên kết giữa các cá nhân và vì đều giàu có coi
rẻ đồng tiền, đã bỏ qua thói xấu của chàng danh ca. Vả chăng, Tuấn
hói cũng là một tay võ nghệ cao cường. Anh la ít tham gia các cuộc
đánh lộn, nhưng những kẻ hiểu biết đoán chắc rằng anh ta là một
cao thủ trong làng võ Thiếu Lâm. Chiều đó, Tuấn hói ngồi trên chiếc
ghế vải bố, gảy ghi-ta và hát. Giọng mượt, có đôi phần trau chuốt:
Biển hiền hòa muôn cánh buồm xa xa
Lòng ta như muốn hát ngàn câu ca...
Càng yên tĩnh, tiếng hát vang động bầu không gian êm ả, hòa
nhập với tiếng nước vỗ dào dạt quanh tàu. Đám thủy thủ lắng nghe,
người ru lắc nhè nhẹ trong cơn chao lắc của con tàu và nỗi buồn
muôn thủa của kiếp sống trên sóng nước. Lấn trong tiếng ca diệu
vợi, là tiếng còi tàu nào đó ngoài khơi, chắc hẳn ở phao số 0 vọng
tới. Tiếng còi kéo là là như một giải khói bay trên mặt biển, nhắc nhở
tới những chân trời, đại dương xanh hoang vu, những nỗi âu lo và
tình yêu cách trở. Các chàng trai trẻ mơ màng mãi khi bài ca đã kết
thúc. Tuấn hói bỗng thả cây đàn xuống sàn tàu, vươn vai:
- Cậu nào cho tớ một chai bia lạnh.
- Nhưng anh phải hát nữa cơ...
Một chàng thủy thủ nài:
- Rồi em sẽ đãi anh ba chai bia hẳn hoi. Có cả xúc xích Hà Lan
nữa.
Tuấn hói cười:
- Được rồi, nhưng hãy mang bia ra đây trước.
Phía sau, Đính đang ngồi trên đống xích bỗng cất tiếng:
- Hôm nay ông hát hay đấy. Nhưng không phải vì giọng hát mà là
vì bài hát. Bài này của thằng cha nhạc sĩ Liên Xô. Chính nó làm bài
“Chiều Mát-xcơ-va” nữa đấy.
Tuấn hói nhìn chằm chằm vào mặt Đính. Rồi đôi mắt nhỏ như
chuột nhắt của anh ta bỗng tóe lên những tia lửa giễu cợt, nhạo
báng.
Anh ta phá lên cười, cười sằng sặc.
Rồi, khi chàng thủy thủ trẻ đưa chai bia ra, Tuấn vừa cầm chai
bia vừa gặng hỏi Đính:
- Thế nào, ông nói lại tôi nghe. Nhạc sĩ Liên Xô phải không? Mà
lại sáng tác cả bài “Chiều Mát-xcơ-va” nữa chứ?
Mặt Đính đỏ rực lên. Cả cổ và hai bắp tay anh ta cũng đỏ. Các
đường gân bắt đầu nổi quanh cổ.
Anh ta trừng mắt:
- Đúng. Chính tai tôi nghe đài Tiếng nói Mát-xcơ-va...
Hai mắt Đính đỏ vằn lên, nhưng trong giọng nói gay cấn đã biểu
hiện rõ sự thua cuộc. Anh ta vùng đứng dậy, hoa tay:
- Thằng em tôi làm phiên dịch trên Bộ ngoại giao cũng nghe nhé.
Nó bảo thằng cha nhạc sĩ này đã biểu diễn cả một chương trình tại
nhà hát Ban-xôi...
Càng nói, Đính càng thua một cách thảm hại. Trong khi đó Tuấn
hói đã tu nửa chai bia, nửa chai còn lại cầm trong tay, mắt chăm chú
nhìn Đính với ánh mắt của một con mèo nhìn con chuột ngọ nguậy
trong nanh vuốt của mình. Đám thủy thủ im lặng. Họ lo ngại trước
bầu không khí nhiều độc tố. Tuấn hói vẫn cười cợt, chờ Đính nói
xong. Và anh ta hỏi:
- Thế cái Ban-xôi ấy là gì vậy?
- Nhà hát lớn.
Đính hét lên, cảm nhận rõ rệt Tuấn đang chòng ghẹo mình.
Tuấn hói bảo:
- Thế mà tôi không biết đấy. Tôi đã bao giờ đặt chân lên đất Mátxcơ-va đâu... Còn cái thằng cha nhạc sĩ ấy tên gì hả ông?
- Tên là...tên là...
Tới đấy, Đính tắc họng, mặt anh ta từ màu đỏ chuyển sang tím
ngắt. Bỗng dưng, anh ta hét lén:
- Tên là...dài bỏ mẹ đi. Đ...ai mà nhớ được.
Tuấn hói ngọt ngào nói tiếp:
- Thế hả?...Nhưng dù tên dài hay ngắn thì ông ta cũng sinh ra
trên đất Ý.
- Sao lại thế được?
Đính tròn mắt hỏi:
- Người Nga chính cống cơ mà?.
Tuấn hói mỉm cười, nói rẽ rọt:
- Bởi vì bản Sê-rê-nát ấy là của một nhạc sĩ khác.
Rồi, quay sang Cường, Tuấn bảo:
- Mày hãy đọc cho ông Đính nghe tên tác giả bản nhạc ấy. Tao
đãng trí, quên rồi.
Cường ngần ngại, nhưng rồi cảm thấy không thể im lặng được,
anh đáp:
- Nếu em không nhầm, đó là Tô-ri-xen-li.
Tuấn hói, một lần nữa ném vào mặt Đính cái nhìn cao ngạo của
kẻ thắng trận, và lại ôm cây ghi-ta lên. Còn Đính, toàn thân tím ngắt
như kẻ trúng phong, trừng trừng nhìn Cường. Tuấn hói là một đối
thủ khá mạnh, còn thằng nhãi ranh mọt chữ kia chỉ là thứ gà què bất
cứ lúc nào hắn cũng có thể vặt trụi lông đuôi lông cánh, Đính khạc
nước bọt xuống sàn tàu, dằn giọng:
- Vứt mẹ nó thằng Tô-ri-xen-li của mày cho chó gặm. Đồ mọt
chữ...
Đoạn, gã đút tay vào túi quần như một thằng cà lơ mười sáu
tuổi, khệnh khạng bước lên cầu tàu... Phải, chính từ chiều hôm ấy,
tai họa đã giáng xuống đầu anh. Chàng trai lùa tay vò mái tóc. Anh
biết mình không có lỗi, hoàn toàn không có lỗi. Nhưng số phận oan
nghiệt xô đẩy anh. Anh phải chấp nhận nó, như người chơi tam cúc
phải chấp nhận cỗ bài được chia dù chỉ cọc cạch vài quân tốt với
những pháo lẻ và xe thiếu cặp.
Trên tàu, Bá cất tiếng gọi vọng xuống:
- Cường, lên đây.
Cường đứng lên. Anh bỗng thấy đôi vai như còng xuống vì mang
vật nặng. Cây cầu tàu treo lơ lửng giữa khoảng trời lục huyền ảo.
Nó chênh vênh. Giống như sợi dây treo không bảo hiểm của người
làm xiếc. Chàng trai rùng mình, thấy trong bầu không gian bao la
sóng, trong cơn say mê mệt của những con tàu nơi vụng nước,
trong mùi tanh mặn muôn thuở của biển nỗi hiểm nguy mà anh
không dò biết được.
°°°
- Ba ơi, tới nơi rồi.
Bích vỗ nhẹ lên vai lão Ngạn khi chiếc ô tô lượn vào bến. Lão
Ngạn choàng mắt hơi choáng váng. Vài giây sau, lão định thần,
nhận được khung cảnh bến xe ngoại vi thành phố, người ta thường
gọi là bến phụ cách cảng ngót nghét hai chục cây số. Cuối cùng, lão
đã chấp nhận gửi nhà cho ông Hai để đi theo Bích, đứa con gái lão
không mảy may yêu quý. Tất nhiên, với dụng tâm lão không nói cho
ai biết là nhân cơ hội này lão sẽ tới cảng thăm Cường.
- Xuống xe đi ba.
Cô con gái nói. Xe đã đỗ lại hẳn, sau khi tuôn ra làn khói hôi xì
làm hành khách nhức dầu. Lão già xuống xe, đưa mắt nhìn khung
cảnh cái bến xe đã lâu không tới. Không có gì thay đổi ở nơi đây.
Vẫn các quán cơm chạy thành hai dãy ven đường, treo các tấm biển
xiên lệch: Cơm bình dân, xin kính mời. Có cơm. Thịt cày bảy món.
Những dòng chữ nhố nhăng, không theo kiểu gì, sơn quét sặc sỡ
với các hình vẽ minh họa vụng dại như bất kỳ thứ nghệ thuật quảng
cáo ba xu nào ở các tỉnh lẻ ven đường.
Phía trước bến xe vẫn còn tấm biển trắng loang lổ hình ngọn
lửa, tín hiệu cho trạm bơm xăng ngày xưa. Lão Ngạn thấy hai thái
dương nhức, lão tìm chỗ vắng. Cô con gái chạy đi tìm người đàn
ông mà cô đã giới thiệu với lão:
“Rồi ba sẽ thích bạn trai của con. Anh ấy tên là Trọng, hiền ơi là
hiền”.
Chỉ lát sau, Bích quay lại, dắt theo một người đàn ông vạm vỡ,
cao tới gần một thước tám, da đen, tóc đen. Anh ta bận đồ bộ cỏ úa,
như nhiều sĩ quan chuyển ngành. Một gương mặt dầu dãi nhưng
thành thực:
- Cháu chào bác ạ.
Người đàn ông đưa cả hai tay nắm tay lão, vồn vã chào, và ánh
mắt thân thiện của anh tố cáo niềm si mê anh đã giành cho Bích.
- Vâng chào anh.
Lão già đáp, thầm so sánh hình vóc người đàn ông với tên Ân
Kiều bán vải, nhân tình của mụ vợ trước: To gần như nhau, da đen
gần như nhau, nhưng thằng này hiền hơn... Lòng lão dấy lên mối
thương hại. Người đàn ông đỡ chiếc túi quần áo trong tay lão:
- Bác đi đường có mệt không ạ?
- Cảm ơn anh, cũng thường thường.
- Cháu sẽ đưa bác về nhà ngay.
Đoạn, quay sang Bích:
- Đưa ba về nhà rồi anh sẽ quay lại đón em.
Giọng yêu chiều của người chồng tận tụy. Lão già ngồi lên xe,
nhắm mắt lại:
- Con quỷ cái, nó cũng ghê gớm như mẹ nó ngày xưa.
Lão không nghe tiếng Trọng nhắc nhở:
- Đường xóc lắm, bác ngồi cho vững nhé...
Non nửa giờ sau, Trọng đã đưa lão Ngạn tới nhà. Đó là một biệt
thự nhỏ, nếu có thể gọi như thế, một ngôi nhà hai tầng xinh xắn như
tổ chim cu với những khuôn cửa sổ nhỏ sơn màu ghi và cẩm thạch,
lắp kinh mờ, với những bồn hoa nhỏ trồng thứ hoa giấy hai màu với
những mảng vôi còn thơm nồng mùi nắng. Nơi trú náu thần tiên cho
một cặp uyên ương - lão già thầm nghĩ - nhưng khốn thay cho mày,
hỡi gã đàn ông khờ khạo kia, nó cũng sẽ là nấm mộ táng. Lão lại
nhớ tới căn nhà rộng rênh, sang trọng của mình ngày xưa, giờ chỉ
còn là những vụn gạch vùi dưới một cửa hàng bán sơn, vôi ve, kính
vụn khả ố trong thành phố. Trọng dìu lão Ngạn ngồi vào sa-lông,
pha trà như một chủ nhân hiếu khách rồi mới quay xe đón Bích.
Lão Ngạn ngồi nhấm nháp chén trà đen, thứ trà trồng trên cao
nguyên Blao. Từ khuôn cửa sổ phòng khách, một khóm nhài tỏa mùi
hương đĩ thõa, lẫn mùi sơn cửa hăng hăng vì chưa kịp khô dầu.
Ước chừng non nửa giờ ...
ánh lên. Các đồi cây đan tiêu hớn hở nô giỡn trước gió, ném vào
không trung ngọn lửa cuồng nhiệt và thất thường của những vòm lá
đỏ như đồng. Trên con lộ chạy vắt qua những trái đồi ngoại ô, chợt
xuất hiện một cỗ xe thổ mộ. Nó tiến thẳng vào thành phố, tiếng vó
ngựa và tiếng lục lạc mỗi lúc mỗi rõ dần.
Lão già Ngạn dỏng tai nghe. Rồi từ trong bếp, hấp tấp lao ra sân,
đưa mắt dõi theo, cỗ xe ngựa vượt qua tòa biệt thự trắng, xưa là
nhà nghỉ của quan công sứ Pháp, nay lũ trẻ đọc sách và chơi đu
quay. Rồi cỗ xe lăn qua khuôn viên, khu trường phổ thông, nhà trẻ...
Vượt qua hai cánh cổng để ngỏ của lão, nó đi hút về cuối phố. Lão
già bất giác thở dài, đôi vai như còng xuống. Từ mảnh sân bên kia,
phân cắt bởi hàng đỗ leo, một ông già cao lớn bước sang. Đưa mắt
nhìn khuôn mặt ủ ê của lão Ngạn, ông cất tiếng:
- Thôi đi, đừng mất công vô ích. Về được, nó khắc về.
- Nhưng tôi nóng ruột...
Lão Ngạn đáp, vẻ hằn học không che đậy: Ông có con đâu mà
ông biết xót?...
Ông già hàng xóm không mảy may phật ý, đáp:
- Tôi không có con nhưng trên đời này chẳng riêng ông được
quyền làm cha. Không người cha nào xử sự như ông cả...Nhưng
thôi, đừng cãi cọ nhau buổi sớm. Pha ấm trà đi.
Nói xong, ông kéo ghế ngồi, đôi chân bắt chéo lại. Lão Ngạn súc
ấm, bỏ trà pha nước mới. Vừa làm, lão vừa nghĩ: Lúc nào hắn cũng
đàng hoàng, mạnh mẽ hơn ta. Dù ngồi ở xó rừng hay ngồi trên ghế
của người khác...Trông kìa, dường như chính hắn mới là chủ nhân
ngôi nhà này, bộ bàn ghế mây đáng tiền này, cả bình trà bằng sứ đời
Thanh này nữa. Đến con trai ta cũng thuộc về hắn. Nó tin hắn như
dân đạo tin Chúa Jesu. Cái thằng khốn...
Ông già láng giềng vẫn ngồi yên lặng, mắt đăm đăm nhìn dãy đồi
đan tiêu nơi chân trời. Tóc ông dày và đen, lưng thẳng. Lão Ngạn
đặt bình trà xuống bàn:
- Được rồi đây.
Ông già rót nước:
- Ông uống luôn cho nóng.
Lão Ngạn gật đầu:
- Phải...Nhưng tôi vào bếp đã. Chặn lại cái thớt kẻo sổng mấy
con cua. Chúng nó cạo nồi cả đêm, không ngủ được.
Lão vào bếp vì không muốn người láng giềng đọc được ý nghĩ
của mình. Thực tình, lão căm ghét ông Hai đến mức thầm ước rằng
bỗng dưng có cơn gió độc thổi tới, ông Hai trúng phong ngã lăn
quay trên mảnh sân này, lão sẽ hả hê bao nhiêu. Trong chiếc nồi
đồng lớn, lũ cua biển giương những đôi mắt lồi tí xíu nhìn lão. Móng
cua sắc cạo xào xạo nghe rợn tai. Bất chợt, lão già đập chiếc thớt
gỗ lên miệng nồi:
- Lũ khốn, trưa nay ta đem luộc ráo.
Lão quay ra sân. Ông già Hai đã uống xong chén trà, khoan thai
bước về mảnh sân bên kia. Lão Ngạn nhìn theo, nghẹn cổ. Trưa
hôm ấy, lão luộc cả mớ cua biển. Một mình, ăn mãi tới nửa đêm mới
hết. Dù uống nửa lít rượu, lão vẫn bị đau bụng. Từ hai giờ rưỡi đêm,
lão chạy đi chạy lại từ nhà trên xuống chuồng tiêu như con thoi. Lũ
nhặng đêm kêu như ong trong không, gian hôi thối. Lão đành uống
năm viên rửa có á phiện. Rồi sau đó, khoảng bốn giờ sáng, lão ngủ
thiếp đi cho tới non trưa ngày hôm sau. Giữa đám sương bồng
bềnh, lãng đãng những vệt nắng vàng. Lão già nghe tiếng xe lăn
ngoài phố. Lần này, xe dừng lại trước cổng. Đứa con trai bước
xuống, nện gót giày trên sân:
- Chào ba, con đã về.
Nó giơ cao chiếc mũ dạ xanh thẫm, đính mỏ neo vàng. Mắt lão
hoa lên. Lão ngắm nghía bộ đồng phục bó sát tấm thân trai trẻ của
nó, nước mắt rớt xuống má...
- Thình thình...thình...Thình thình...
- Ba ơi i i...
Hai cánh cửa rung bần bật. Và giọng một người đàn bà:
- Chú Hai, ba cháu ốm à?
- Không rõ. Đêm qua tao thấy ông ấy chong đèn tới ba giờ sáng.
- Mọi ngày ông cụ tỉnh ngủ lắm, ho khẽ đã trở dậy rồi.
- Có thể ngủ mệt không nghe được.
- Cháu phá cửa đây.
- Hãy gọi thêm lát nữa xem sao?...
Tiếng gọi cất lên:
- Ba ơi, ba ơi i i...
Lão Ngạn rùng mình. Không phải tiếng nói của thằng Cường,
đứa con trai lão chờ đợi. Giọng của một người đàn bà, như từ cõi
âm vọng tới. Lão già cố mở mắt, nhìn thấy cánh tay xanh nhợt của
mình vắt trên ngực. Lão cố định thần, lắng nghe tiếng gọi:
- Ba ơi...
Lão Ngạn thầm kêu:
- Con Bích.
Rồi chống tay ngồi lên, lão lê từng bước ra mở cửa. Bàn tay lão
lạnh ngắt, run run đặt trên quả đấm sứ:
- Tao đây.
Cánh cửa bật mở. Cô con gái kêu:
- Ba làm sao vậy?
Thay vì trả lời con, lão Ngạn quay sang người hàng xóm:
- Tôi bị tháo dạ, vì lũ cua biển hôm qua.
Ông Hai hỏi:
- Ông có cần thuốc không?
- Không. Giờ cầm rồi.
- Có cần gì thì gọi tôi.
Người láng giềng quay đi. Lão Ngạn lần về giường nằm, chút
nữa bật tiếng rên thất vọng:
- Mình mong thằng bé. Lại hóa ra con trời đánh này.
Lão đã kịp nuốt những lời đó vào họng. Kê đầu trên tấm gối sa
tanh cáu ghét, lão he hé mắt nhìn đứa con gái người vợ trước. Bích
đang xếp mấy hộp bánh lên bàn, lưng xây lại. Vai xuôi, lưng núng
nính: Sao nó giống mụ ta đến thế?...Ba mươi tuổi đã phát phì. Hai
năm rưỡi, biệt tăm tích. Hẳn có chuyện gì mới dẫn xác về đây...
- Ba già rồi, ăn cua làm gì cho sinh chuyện?...Giờ ba đã đỡ
chưa?
- Chưa.
- Con nấu cháo nhé?
- Thôi.
- Thế thì cụ nghỉ đi. Rồi có việc phải giúp con đấy... Bây giờ, con
rửa mặt đã...
Nói xong, cô con gái rút chiếc khăn bông trong làn, ra sân sau.
Lão Ngạn nằm nghe tiếng trục quay cọt kẹt, tiếng gầu va vào thành
giếng, và tiếng nước xối xuống thau. Bất chợt, lão bật tiếng rên:
- Trời hành ta. Sao nó giống mụ ấy đến như vậy?...
Một gương mặt luôn luôn đỏ rực. Cặp môi ướt dầy và cháy
bỏng. Đôi mắt nhỏ đờ đẫn, người biết xem tướng thường gọi là Trư
nhãn, lúc nào cũng phủ làn khói của cơn say ái ân. Phải, gương mặt
ấy đã hiện ra trong ánh sáng nhập nhoạng của một rạp chiếu bóng,
năm lão mười chín tuổi. Lúc ấy, lão là một chàng trai khờ khạo. Cậu
ấm Ngạn, con trai thứ bảy trong đàn con chín đứa của ông thủy sư
đô đốc. Kết quả của một cuộc mây mưa trong cơn say rượu, Ngạn
oèo oặt từ nhỏ. Mẹ anh đã nuôi anh bằng sữa cộng với nhân sâm.
Cha anh, bù lại cho con phần thiếu hụt thể lực và hình thức đã cho
anh một hiệu đại lý thuốc tây từ năm anh mười tám. Năm sau, Ngạn
mười chín, nhân dịp Tết Nguyên tiêu, ông lại cho anh quyền sở hữu
một cửa hàng kem có hai máy. Với gia tài đó, Ngạn trở thành con
mồi khiến tất cả các gia đình có con gái lớn trong thành phố thèm
khát. Người ta săn đuổi anh tứ phía. Nhưng anh vẫn còn là một
thiếu niên to xác: thích xem phim Tác-dăng, thích đánh tam cúc và
bài tây ăn tiền với đám trẻ quanh nhà. Anh đi chơi với đám trẻ, lộc
ngộc như con gà trống giữa bày gà choai, ngang nhiên gác chân lên
hàng ghế chuồng gà trong rạp hát, ngang nhiên mút kem rong trên
hè phố, ngang nhiên hát những bài hát tục tĩu tụi lính kèn du nhập
vào phố biển...Bỗng dưng, một tối, trong rạp chiếu bóng, có ai đó áp
bộ ngực nóng hổi vào lưng Ngạn. Chàng trai giật thót người, quay
lại. Và anh hoàn toàn sửng sốt khi thấy trước mặt mình hiện ra một
gương mặt thiếu nữ. Ngạn không nói được gì, há miệng nhìn. Cô
gái cười, hai má đỏ như gấc chín. Rồi cô nói, tự nhiên:
- Đổi vé cho em nhé, đầu anh cao thế em làm sao xem được?...
Trong thành phố không gia đình nào dám cho con gái đi xem
phim cao bồi. Vì thế, Ngạn bàng hoàng mãi như mê ngủ. Khi anh
chưa đáp lời, cô gái lạ đã đặt bàn tay lên vai anh:
- Nào, đi đi...
Chàng trai mềm nhũn ra tức khắc, theo bàn tay cô gái điều khiển
ngồi xuống chiếc ghế phía sau. Buổi xem phim ấy, Ngạn như bị ma
ám. Người anh lúc nóng bừng, lúc lạnh toát tùy thuộc vào những
tiếng thì thầm, những nụ cười, những cái va chạm nhẹ nhàng nhưng
đầy nhục tính. Hình ảnh những anh chàng vạm vỡ, phi ngựa như
gió, phóng dao và bắn súng lục thiện nghệ không còn hút hồn anh
như xưa. Anh đã bị chi phối bởi một gương mặt khác...Nụ hôn đầu
tiên cô ta ban phát cho anh, sau tấm phông rách lỗ chỗ và nhàu nát
của một gánh hát rong, vừa cay vừa mặn vì có mùi thịt bò khô nộm
đu đủ. Cô bá cổ anh, cọ bên má nóng rực vào má anh, thì thầm:
- Thích không?...
Rồi cô chìa cho anh một nắm lạc ngọt của người Tàu, dặn:
- Mai anh mang nhiều tiền đi, chúng mình đến tiệm chú Voòng.
Hôm sau, anh theo cô tới tiệm chú Voòng, một quán ăn thụt sâu
trong ngõ, cái ngõ đó nằm giữa khu phố cổ mà anh ít bén mảng tới.
Quán nhỏ, bốn bức tường quét vôi vàng nhờn mỡ và các vết ố, lúc
nào cũng quần tụ một thứ khói hương trầm lẫn khói đèn dầu hỏa.
Chủ quán lẫn những người phục vụ đều béo tốt, nhớp nhúa và hiện
ra trong làn ánh sáng vàng vọt như những bóng ma. Ngạn sợ, anh
bảo cô:
- Tối quá. Mình tìm hiệu ăn khác ngoài phố.
Cô bĩu môi:
- Ngốc. Quán chú Voòng ngon nhất cảng.
Anh chàng nhát nhúa ngồi im. Cô bắt đầu gọi các món ăn, không
cần bảng thực đơn. Những tiếng “Dạ” kéo dài vọng giữa đám hơi
nước mù mịt trong bếp. Và sau đó, người hầu bàn mặc quần áo Tàu
vải thô, lần lượt bưng lên. Cô nói đúng, các món ăn ở cái tiệm kỳ
quái này ngon nhất thành phố biển. Chốc lát, một tay thủy thủ già,
dáng trụy lạc hoặc một gã trai da xanh mướt bước vào, lẳng lặng
ném mũ xuống bàn và ngồi tựa vào bức tường dơ dáy với dáng điệu
của kẻ sắp trẫm mình.
- Dạ, ông dùng gì?
- Tiết kẻ tử tù.
- Dạ, vâng Boóc-đô. Có ngay. Và sau đó?
- Cồn bóp tim.
- Rượu mạnh, thưa ông, có thứ thượng hạng đấy.
- Cậu dùng như mọi bữa?
- Không. Súp-lơ trắng với nấm hương.
Ngạn ngơ ngác, anh hỏi cô rằng tại sao người ta tìm được rau
súp-lơ giữa mùa này?...Cô cười và giải thích cho chàng công tử
hiểu súp-lơ trắng nghĩa là những chiếc chân vịt rút xương tẩm bột
trứng rán giòn lên, hình giống những miếng súp-lơ thái mỏng. Cô
còn giải thích cho anh nhiều điều nữa, tất cả mớ từ ngữ và kiến thức
của các tiệm ăn đen, các quán trà đen, các ngõ tối nơi tụ hội những
số kiếp oái oăm, cắc cớ nhất của cõi đời. Trong mê cung của cô,
cậu ấm Ngạn không còn tìm thấy lối ra. Người thầy đầu tiên về tình
ái bao giờ cũng là người nắm giữ sinh mệnh học trò đối với những
tâm hồn yếu mềm, trơ trọi.
Cậu ấm Ngạn vốn trơ trọi về đời sống tâm linh, cậu đã đi theo cô
như một kẻ tòng phục Ngọc Bảo, tên cô. Một căn nhà gỗ ven chợ
nơi trú náu của mẹ con cô. Ngạn đã tới...
Tiếng chân bước của đứa con gái khiến lão giật mình. Bích cất
giọng hỏi:
- Sao ba không ngủ đi?...
Lão Ngạn đưa mắt nhìn Bích:
- Mày về đây có việc gì?
Cô gái ngồi xuống ghế:
- Sao ba hỏi con thế?
Lão già nhắc lại bướng bỉnh:
- Mày về đây có việc gì?
- Thăm ba, điều đó không được hay sao?
- Hai năm rưỡi trời mày không có lấy một dòng chữ, thăm nom
gì.
- Con bận. Có phải suốt ngày ngồi ngóng ra ngõ như ba được
đâu?
- Tao không ăn đến hạt cơm của mày. Ngồi hay đứng là quyền
của tao.
Cô con gái nhìn bố hồi lâu, hạ giọng:
- Thôi, ba bỏ qua cho con. Ba khó tính khiếp lên được.
- Mày cần gì tao?
- Ba già quá rồi, không nên ở hiu quạnh mãi thế này. Lúc trái gió
trở trời, con và em Cường làm sao biết được?
- Tao đã ở một mình mười mấy năm nay. Mày không cần lo.
- Mọi việc khó khăn nhờ cậy chú Hai. Nhưng ba không thể nhờ
chú ấy mãi.
Lão Ngạn nhỏm dậy:
- Tao không cần nhờ cậy ai hết.
Bích cười nhạt:
- Thôi, ba nằm xuống đi.
Lão Ngạn chống tay nhìn con. Nụ cười còn đọng trên cặp môi
dày của cô ta. Nụ cười khinh thị và hiểm độc. Cặp môi không trộn
lẫn được với bất kỳ cặp môi nào khác, với lớp da mọng như ứ máu,
nét gợn nơi khóe mép, hứa hẹn no nê tình dục và ẩn giấu những lời
lẽ nhọn như gai đâm. Hơn ba năm trước, mỗi nụ cười ấy kéo theo
một cơn xốc của lão, những tràng ho bỏng rát lồng ngực, và lão cúi
xuống, cúi xuống chiếc ống nhổ sứ trắng miệng loe đặt cuối
giường...từng dòng máu đỏ vọt ra.
- Mày cút khỏi đây...
Lào Ngạn rít lên, trước khi nằm vật xuống giường. Bích đến gần
bố nhìn hồi lâu gương mặt xám ngoét, cạn kiệt sinh khí và in rõ
những nét hằn đau khổ. Cô ta hối hả chạy sang sân bên kia:
- Chú Hai ơi, chú sang xem giùm. Ba cháu vừa ngất...
- Chờ tôi lấy túi thuốc. Lại cãi cọ nhau phải không?...Lần nào cô
về ông ấy cũng ngất. Tại sao?...
°°°
Trời tím dần một cách mau lẹ rồi sau đó, các lớp mây tro tan vào
mặt sóng. Không còn gì ngoài một vệt đen thẫm chạy vòng quanh
chân mây. Phía trên vành cung đen ấy, trời lục, nhẹ như khói với
dăm bảy vì sao tan vụn ra thành bụi, sau đó chúng hợp lại và chuẩn
bị cho một lần tan vỡ khác. Anh nhấm nháp từng hột lạc rang cháy.
Anh nhấm nháp như thế từ chiều khi nhận chân gác tàu cho anh em
lên thành phố.
Túi lạc đã vơi quá nửa, Cường rút cuốn sách trong ngăn kéo
dưới giường ngủ. Cuốn sách nhàu nát, sực mùi dầu máy mùi mồ hôi
và mùi tanh khó tả của tất thảy những con tàu. Cường lật trang 87
đánh dấu bằng mảnh nhựa mỏng anh vẫn dùng gảy ghi-ta. Chuyện
kể về vụ án mà tội nhân là người da đỏ. Y đã từ bỏ xứ xở của mình,
đã tìm đủ phương pháp để xóa đi màu da, dấu vết tổ tông, âm sắc
của tiếng nói mẹ đẻ để rượt theo kẻ thù từ Châu Mỹ qua Châu Úc,
từ Châu Úc qua Châu Âu và cuối cùng hạ thủ y trong một lâu đài đổ
nát vùng Scốt-len. Cường đặt cuốn truyện lên gối, đọc tiếp. Đoạn
văn miêu tả cảnh tên tội đồ trở lại vùng quê, sau khi đã đạt được
mục đích cuộc trả thù:
“...Trăng sáng đến nỗi y thấy lạnh. Trăng là một thứ tuyết đá tan
chảy, nhuốm bụi vàng. Y lột giầy, đạp trên cỏ nháp, nghe những
ngọn cỏ sắc cọ vào lớp da chân đã mỏng qua nhiều năm quen đi
giày. Hồi bé, y đã lăn trong cỏ, chơi đùa như chú ngựa non. Hồi đó,
Hét-tơ thường mang cho y những miếng bánh ngô tẩm mật ong ngọt
sắc. Hồi đó... thôi dừng thèm nghĩ tới tuổi thơ vì những ý nghĩ ấy chỉ
làm cho người đàn ông yếu lòng. Cái chính là phải sống cho tương
lai... Tương lai... Y ngước nhìn những ngọn núi chọc vào bầu trời
như răng cá sấu. Chưa ở nơi nào, núi có hình dáng ghê rợn như
những ngọn núi quê hương. Các thớ đá bóng như sừng mà ánh
trăng quét lên lượt nhũ vàng thấm trên các khe núi âm u đâm vào
tim con người như lưỡi dao. Còn những con thác nhỏ óng ánh, chảy
như reo. Y ngồi phệt xuống cỏ, nhìn mãi. Ngày hôm nay, ở các lữ
quán dọc đường bộ hành, những người dân xứ xở này đều chối bỏ
y. Họ không chấp nhận gã đàn ông để ria kiểu Anh, mặc bộ đồ như
những tay bán thịt ngoại ô Luân-đôn và đi đôi giày giá một trăm năm
mươi bảng. Còn y, khi trở lại núi non này, ngồi xuống cỏ, y thấy mình
tan hòa vào núi, vào cỏ, vào ánh trăng, vào khí trời xứ xở. Những
thành phố trong ký ức rơi lả tả như tàn tro: Nào Săng-chi- a-gô, nào
Niu-ước, nào Pa-ri, nào Luân-đôn, Cai-rô, Síp... Tất thảy chỉ là các
phòng trọ với khung cửa vuông, bồn rửa mặt hoặc sạch sẽ hoặc
nhơ bẩn, tấm chăn dấp và chiếc giường,... Không, y vẫn chỉ là đứa
con của xứ xở này. Bởi vì khi y từ bỏ màu da, y phục, tiếng nói của
mẹ đẻ, chính là để cho tái cả ân huệ và tai ương của tổ tông sống
lâu bền mãi mãi trong huyết quản y, trong tâm hồn sâu kín của y, và
trong mối thù độc địa của y... ”
Một tiếng quát thô lỗ vang lên, cắt dứt những dòng chữ:
- Đồ con lợn, mày không tìm được trò gì khác hay sao mà suốt
ngày ru rú như con lợn chờ xuất chuồng thế này?
Cường chưa kịp trả lời, Đính đã xô anh vào sát vách. Đính ngồi
xuống giường, lột đôi giày và đôi tất ném vào góc phòng. Hai bàn
chân anh ta bốc mùi thối. Cường quay đi. Đính đã thấy. Anh ta cười
gằn:
- A, chân tao thối lắm phải không?
Cường im lặng không đáp. Nhưng Đính đã túm tóc anh, quay
mặt anh lại và nhìn chằm chăm vào mắt anh bằng đôi mắt vằn đỏ tia
máu:
- Công tử Cường không chịu được mùi chân thối. Công tử quen
hít nước hoa. Thế mà dân đi biển thì chỉ bốc lên mùi tanh và mùi
thối.
Hơi thở Đính nồng nặc rượu. Hẳn anh ta đã uống liên miên suốt
buổi chiều, cả tàu, không ai uống rượu như Đính. Anh ta có thể nốc
hai ba lít rượu trong một ngày. Nếu lượng rượu đó làm người khác
đứt mạch máu não thì chỉ khiến Đính đập tan chiếc cối đá, đạp bẹp
dí chiếc xoong nhôm dày năm ly rồi sau đó ngủ liền hai ngày không
nhúc nhích. Cường ôn tồn nói:
- Anh về phòng ngủ đi.
Đính trừng mắt:
- Mày đuổi tao về, phải không?
Cường lắc đầu:
- Anh mệt rồi. Anh đi ngủ cho dễ chịu.
- Tao không muốn ngủ, tao ngồi đây dễ chịu hơn.
- Vậy thì tùy anh.
Cường đáp, cầm cuốn truyện định đọc tiếp. Nhưng Đính giật
cuốn sách trên tay anh:
- Mày không thèm nói chuyện. Mày khinh tao phải không, thằng
nhãi?
- Nhưng tôi biết nói chuyện gì với anh bây giờ? Anh say rồi.
- Tao mà say à?... Này, bố bảo cho con biết, ba mươi năm nữa
bố cũng chưa say.
- Anh Đính.
Cường gần như van vỉ:
- Tốt nhất là anh nên đi ngủ, cho dịu thần kinh. Anh uống nhiều
hơn cả lần trước đấy.
Đính không nghe Cường nói. Mắt anh ta đỏ vằn. Những đường
gân xanh tím bằng chiếc đũa nổi lên trên cần cổ vạm vỡ:
- Thằng nhãi... Tôi biết nói chuyện gì với anh bây giờ?...Mày
khinh tao. Mày khinh tao từ lâu rồi...đừng hòng che dấu điều đó.
Bàn tay cứng như thép của anh ta bóp chặt cổ Cường lắc như
lắc chai rượu:
- Mày là thá gì mà dám khinh tao?... Lẽ ra, tao phải bóp cổ mày
như bóp một con nhái mà quảng xuống biển. Cái điệu bộ của mày
chỉ đáng làm thằng thợ may suốt ngày kéo thước dây đo đùi đo đít
lũ đàn bà. Cái mớ chữ nghĩa trong đầu mày đem mà bán lấy vài
đồng xu rỉ. Đối với dân đi biển, mớ chữ nghĩa ấy không đáng là mớ
giẻ cọ sàn tàu.
Nước bọt của Đính phun ra bắn vào mặt Cường. Anh không
dám đưa lay lau.
Cử chỉ đó sẽ kích động Đính và khiến gã đánh đập anh tàn nhẫn
hơn. Con người này, khi đã lên cơn hung bạo, không gì kiềm chê
nổi.
Vả lại, tay gã xiết chặt cổ anh như hai gọng kìm. Chàng trai
nhắm mắt, anh không dám nhìn lâu bộ mặt đỏ rực của Đính, với hai
nhãn cầu lồi lên như mắt cá vàng chạy ngoằn ngoèo những tia máu.
Đính thở hào hển, những tràng chửi rủa tuôn xối xả:
- Bao lâu nay, chúng tao đã chịu dựng mày như chịu chở theo
tàu một cái xác thối, cả mày, cả những bãi nôn vàng ệnh của mày,
bộ mặt tái xanh tái tử của mày... Tất cả đều làm ngứa mắt tao. Biển
không cần thứ mèo ốm mặc áo thủy thủ. Biển chỉ cần những thằng
đi biển thật như tao. Mày hiểu chưa? Thằng thối thây...loài ăn bám.
Hết tràng chửi rủa, chừng đã hả cơn tức, Đính buông Cường ra.
Anh ta nhếch môi cười, bọt sùi trắng xóa. Một dòng nước bọt chảy
từ mép Đính xuống cằm. Anh ta đưa tay chùi, đoạn quẹt bàn tay dây
đầy nước rãi vào môi Cường. Cường định giơ tay đẩy Đính ra,
nhưng kinh nghiệm của những lần trước khiến anh phải buông
thõng cánh tay xuống. Chàng trai ngồi im, cố chịu đựng cơn say của
Đính, vẻ cam chịu của anh khiến gã dịu đi. Gã nhổ bọt phì phì, tỏ vẻ
khinh miệt. Rồi, móc túi lấy một nắm tiền, gã ném vào mặt Cường:
- Cầm lấy, vào phố mua rượu cho tao. Nửa tiếng nữa chưa
mang rượu về tao sẽ cho mày nếm bã trầu.
Cường nghĩ: Đây là dịp tốt nhất để mình thoát khỏi hắn. Anh
cầm tiền, xách chiếc vỏ chai, lên cầu tầu. Đính co chân đạp gối và
cuốn sách của chàng trai xuống sàn, nằm vật ra. Phút đó, gã còn
ném theo chàng trai một cái nhìn thù ghét, cay độc. Cường leo qua
cầu tàu, xuống bến. Anh đi về phía khu nhà bảo vệ cảng, múc nước
trong phuy, rửa mặt.
Ông già gác cảng hỏi vọng ra:
-Ai thế?
- Cháu, Cường đây. Cháu xin ít nước rửa mặt.
- Sao không vào bể trong này, nước ấm hơn.
Tiếng ông già khàn như bị viêm phế quản. Thanh âm vọng trong
không gian yên tĩnh. Nước ấm hơn... Cường bỗng trào nước mắt.
Anh vốc nước rửa mãi vết nước rãi nhơ nhớp của gã say trên môi,
rửa cả những dòng nước mắt nóng hổi tràn xuống hai má... Lúc ấy,
trên khoảng xi- măng trống vắng, có một người đàn ông bước tới.
Anh ta cao lớn, vóc dáng chắc chắn với những bước đi sải dài, đều
đặn. Người đàn ông dừng lại trước khu nhà bảo vệ một lát, chăm
chú nhìn và nhận ra Cường. Anh bước tới sau lưng chàng trai:
- Cường.
Chàng trai sực tỉnh, ngẩng đầu lên. Anh nhận ra thợ máy trưởng
Bá. Bá ngạc nhiên hỏi:
- Sao cậu xuống đây?
- Anh Đính đang ở trên tàu. Anh ấy bắt em đi mua rượu.
- Lại thằng Đính. Nó có gây sự với cậu không?
- Không.
Cường đáp. Nhưng chính anh và Bá đều hiểu rằng đó là một câu
nói dối. Hai người im lặng. Rồi Cường nuốt nước bọt, hạ giọng:
- Chuyện ấy...anh đừng để tâm. Anh ta cũng có lý.
-Lý gì?
- Vì…vì em là kẻ vô dụng. Còn Đính, dù có bao nhiêu thói xấu
vẫn là một thủy thủ giỏi. Tầu cần anh ta.
Bá dằn giọng:
- Cậu thật lạ lùng... Tôi không hiểu...
Anh bỏ lên tàu. Bóng anh lướt qua khoảng không màu lục treo lơ
lửng giửa trời với cây cầu tàu lắt lẻo. Cường ngồi xuống kè. Đá
thấm hơi sương làm ẩm lớp vải quần. Chàng trai khẽ rùng mình vì
lạnh. Anh khoanh hai tay, dựng cổ sơ mi lên. Lúc đó, một câu hỏi
quen thuộc lại lởn vởn trong tâm trí:
- Tại sao?...
Tại sao gã đàn ông tàn bạo ấy thù hằn anh? Tại sao anh phải
cam chịu sự hà hiếp trơ tráo của gã? Tại sao mọi cố gắng hòa dịu
của anh và thiện chí của những người xung quanh hoàn toàn vô
nghĩa. Càng ngày, mối thù độc địa của Đính với anh càng cay nồng
và luôn luôn, trong đôi mắt vằn máu của gã, hiện lên ước muốn điên
cuồng và âm hiểm của kẻ sát nhân... Bất giác, chàng trai đưa hai tay
ôm đầu. Anh nhớ lại buổi chiều hôm ấy, một chiều hè ấm nóng cách
đây đã ngót năm năm. Tàu cũng neo tại bến này. Lúc đó khu nhà
bảo vệ chưa xây lại, chỉ là một gian nhỏ lợp ngói xi măng đen sỉn.
Hàng đã dỡ xong, chờ ăn hàng mới. Đám thủy thủ tụ họp trên boong
vì buổi tối có cuộc tổng kết các chuyến đi trong ba tháng qua. Họ
vẫn còn thèm xuống phố chơi, nên ai nấy nhấp nhỏm mong tàu
trưởng từ tổng công ty tàu biển trở về. Vài anh sắm sửa đồ đạc, là
quần áo. Vài anh ăn mặc tươm tất, đứng hóng gió. Còn tất cả xúm
quanh Tuấn hói, danh ca của đám thủy thủ cảng. Tuấn hói ngoại bốn
mươi, to béo, bụng bắt đầu phệ, tóc chỉ còn một vành đai bao từ hai
tai tới gáy. Anh ta khỏe hơn bất cứ người đàn ông nào cùng lứa tuổi.
Trí nhớ tốt, thuộc bài hát, có giọng hát nghiệp dư nhưng cũng khá
điêu luyện, sổ tay anh ta có ảnh các ca sĩ nổi tiếng trong và ngoài
nước. Ngoài ảnh của các ca sĩ là ảnh đàn ông khỏa thân. Tuấn hói
có cái thú kỳ lạ là sưu tập ảnh đàn ông khỏa thân. Tới thành phố
nào anh ta cũng lùng sục, mua bằng được.
Trong va ly quần áo của anh ta có tới sáu cuốn sổ ngoại, hàng tư
bản đờ-luých, cực kỳ đắt tiền và đẹp. Sáu cuốn sổ đầy ắp ảnh ca sĩ
và đàn ông khỏa thân, vừa màu, vừa đen trắng. Anh ta buôn giỏi và
có kha khá tiền vì ngoài thú chơi ảnh và gảy đàn, anh ta không ham
mê gì khác. Hình như Tuấn hói đã có vợ con ở nhà quê, quê anh ta
ở một làng xa tít mù khơi tỉnh Thanh, nhưng Tuấn mập mờ lảng
tránh mỗi bận đụng chạm tới điều đó nên cũng không ai rõ thực hư.
Nói chung, Tuấn hói là một người đàn ông dễ chịu, ngoại trừ thói ăn
cắp vặt. Anh ta không thể từ bỏ thói quen đó. Cứ trông thấy vật gì đó
khả dĩ, dù chiếc bật lửa, chiếc đồng hồ đeo tay, cuốn an- bom xinh
xẻo, thậm chí hộp kẹo cao su của ai hớ hênh, Tuấn hói phải lấy cho
kỳ được. Anh ta không thiếu nhưng thích lấy của người khác. Thế
thôi. Đó là một căn bệnh, và đám thủy thủ, vì cuộc đời lênh đênh
sóng nước cần tới sự liên kết giữa các cá nhân và vì đều giàu có coi
rẻ đồng tiền, đã bỏ qua thói xấu của chàng danh ca. Vả chăng, Tuấn
hói cũng là một tay võ nghệ cao cường. Anh la ít tham gia các cuộc
đánh lộn, nhưng những kẻ hiểu biết đoán chắc rằng anh ta là một
cao thủ trong làng võ Thiếu Lâm. Chiều đó, Tuấn hói ngồi trên chiếc
ghế vải bố, gảy ghi-ta và hát. Giọng mượt, có đôi phần trau chuốt:
Biển hiền hòa muôn cánh buồm xa xa
Lòng ta như muốn hát ngàn câu ca...
Càng yên tĩnh, tiếng hát vang động bầu không gian êm ả, hòa
nhập với tiếng nước vỗ dào dạt quanh tàu. Đám thủy thủ lắng nghe,
người ru lắc nhè nhẹ trong cơn chao lắc của con tàu và nỗi buồn
muôn thủa của kiếp sống trên sóng nước. Lấn trong tiếng ca diệu
vợi, là tiếng còi tàu nào đó ngoài khơi, chắc hẳn ở phao số 0 vọng
tới. Tiếng còi kéo là là như một giải khói bay trên mặt biển, nhắc nhở
tới những chân trời, đại dương xanh hoang vu, những nỗi âu lo và
tình yêu cách trở. Các chàng trai trẻ mơ màng mãi khi bài ca đã kết
thúc. Tuấn hói bỗng thả cây đàn xuống sàn tàu, vươn vai:
- Cậu nào cho tớ một chai bia lạnh.
- Nhưng anh phải hát nữa cơ...
Một chàng thủy thủ nài:
- Rồi em sẽ đãi anh ba chai bia hẳn hoi. Có cả xúc xích Hà Lan
nữa.
Tuấn hói cười:
- Được rồi, nhưng hãy mang bia ra đây trước.
Phía sau, Đính đang ngồi trên đống xích bỗng cất tiếng:
- Hôm nay ông hát hay đấy. Nhưng không phải vì giọng hát mà là
vì bài hát. Bài này của thằng cha nhạc sĩ Liên Xô. Chính nó làm bài
“Chiều Mát-xcơ-va” nữa đấy.
Tuấn hói nhìn chằm chằm vào mặt Đính. Rồi đôi mắt nhỏ như
chuột nhắt của anh ta bỗng tóe lên những tia lửa giễu cợt, nhạo
báng.
Anh ta phá lên cười, cười sằng sặc.
Rồi, khi chàng thủy thủ trẻ đưa chai bia ra, Tuấn vừa cầm chai
bia vừa gặng hỏi Đính:
- Thế nào, ông nói lại tôi nghe. Nhạc sĩ Liên Xô phải không? Mà
lại sáng tác cả bài “Chiều Mát-xcơ-va” nữa chứ?
Mặt Đính đỏ rực lên. Cả cổ và hai bắp tay anh ta cũng đỏ. Các
đường gân bắt đầu nổi quanh cổ.
Anh ta trừng mắt:
- Đúng. Chính tai tôi nghe đài Tiếng nói Mát-xcơ-va...
Hai mắt Đính đỏ vằn lên, nhưng trong giọng nói gay cấn đã biểu
hiện rõ sự thua cuộc. Anh ta vùng đứng dậy, hoa tay:
- Thằng em tôi làm phiên dịch trên Bộ ngoại giao cũng nghe nhé.
Nó bảo thằng cha nhạc sĩ này đã biểu diễn cả một chương trình tại
nhà hát Ban-xôi...
Càng nói, Đính càng thua một cách thảm hại. Trong khi đó Tuấn
hói đã tu nửa chai bia, nửa chai còn lại cầm trong tay, mắt chăm chú
nhìn Đính với ánh mắt của một con mèo nhìn con chuột ngọ nguậy
trong nanh vuốt của mình. Đám thủy thủ im lặng. Họ lo ngại trước
bầu không khí nhiều độc tố. Tuấn hói vẫn cười cợt, chờ Đính nói
xong. Và anh ta hỏi:
- Thế cái Ban-xôi ấy là gì vậy?
- Nhà hát lớn.
Đính hét lên, cảm nhận rõ rệt Tuấn đang chòng ghẹo mình.
Tuấn hói bảo:
- Thế mà tôi không biết đấy. Tôi đã bao giờ đặt chân lên đất Mátxcơ-va đâu... Còn cái thằng cha nhạc sĩ ấy tên gì hả ông?
- Tên là...tên là...
Tới đấy, Đính tắc họng, mặt anh ta từ màu đỏ chuyển sang tím
ngắt. Bỗng dưng, anh ta hét lén:
- Tên là...dài bỏ mẹ đi. Đ...ai mà nhớ được.
Tuấn hói ngọt ngào nói tiếp:
- Thế hả?...Nhưng dù tên dài hay ngắn thì ông ta cũng sinh ra
trên đất Ý.
- Sao lại thế được?
Đính tròn mắt hỏi:
- Người Nga chính cống cơ mà?.
Tuấn hói mỉm cười, nói rẽ rọt:
- Bởi vì bản Sê-rê-nát ấy là của một nhạc sĩ khác.
Rồi, quay sang Cường, Tuấn bảo:
- Mày hãy đọc cho ông Đính nghe tên tác giả bản nhạc ấy. Tao
đãng trí, quên rồi.
Cường ngần ngại, nhưng rồi cảm thấy không thể im lặng được,
anh đáp:
- Nếu em không nhầm, đó là Tô-ri-xen-li.
Tuấn hói, một lần nữa ném vào mặt Đính cái nhìn cao ngạo của
kẻ thắng trận, và lại ôm cây ghi-ta lên. Còn Đính, toàn thân tím ngắt
như kẻ trúng phong, trừng trừng nhìn Cường. Tuấn hói là một đối
thủ khá mạnh, còn thằng nhãi ranh mọt chữ kia chỉ là thứ gà què bất
cứ lúc nào hắn cũng có thể vặt trụi lông đuôi lông cánh, Đính khạc
nước bọt xuống sàn tàu, dằn giọng:
- Vứt mẹ nó thằng Tô-ri-xen-li của mày cho chó gặm. Đồ mọt
chữ...
Đoạn, gã đút tay vào túi quần như một thằng cà lơ mười sáu
tuổi, khệnh khạng bước lên cầu tàu... Phải, chính từ chiều hôm ấy,
tai họa đã giáng xuống đầu anh. Chàng trai lùa tay vò mái tóc. Anh
biết mình không có lỗi, hoàn toàn không có lỗi. Nhưng số phận oan
nghiệt xô đẩy anh. Anh phải chấp nhận nó, như người chơi tam cúc
phải chấp nhận cỗ bài được chia dù chỉ cọc cạch vài quân tốt với
những pháo lẻ và xe thiếu cặp.
Trên tàu, Bá cất tiếng gọi vọng xuống:
- Cường, lên đây.
Cường đứng lên. Anh bỗng thấy đôi vai như còng xuống vì mang
vật nặng. Cây cầu tàu treo lơ lửng giữa khoảng trời lục huyền ảo.
Nó chênh vênh. Giống như sợi dây treo không bảo hiểm của người
làm xiếc. Chàng trai rùng mình, thấy trong bầu không gian bao la
sóng, trong cơn say mê mệt của những con tàu nơi vụng nước,
trong mùi tanh mặn muôn thuở của biển nỗi hiểm nguy mà anh
không dò biết được.
°°°
- Ba ơi, tới nơi rồi.
Bích vỗ nhẹ lên vai lão Ngạn khi chiếc ô tô lượn vào bến. Lão
Ngạn choàng mắt hơi choáng váng. Vài giây sau, lão định thần,
nhận được khung cảnh bến xe ngoại vi thành phố, người ta thường
gọi là bến phụ cách cảng ngót nghét hai chục cây số. Cuối cùng, lão
đã chấp nhận gửi nhà cho ông Hai để đi theo Bích, đứa con gái lão
không mảy may yêu quý. Tất nhiên, với dụng tâm lão không nói cho
ai biết là nhân cơ hội này lão sẽ tới cảng thăm Cường.
- Xuống xe đi ba.
Cô con gái nói. Xe đã đỗ lại hẳn, sau khi tuôn ra làn khói hôi xì
làm hành khách nhức dầu. Lão già xuống xe, đưa mắt nhìn khung
cảnh cái bến xe đã lâu không tới. Không có gì thay đổi ở nơi đây.
Vẫn các quán cơm chạy thành hai dãy ven đường, treo các tấm biển
xiên lệch: Cơm bình dân, xin kính mời. Có cơm. Thịt cày bảy món.
Những dòng chữ nhố nhăng, không theo kiểu gì, sơn quét sặc sỡ
với các hình vẽ minh họa vụng dại như bất kỳ thứ nghệ thuật quảng
cáo ba xu nào ở các tỉnh lẻ ven đường.
Phía trước bến xe vẫn còn tấm biển trắng loang lổ hình ngọn
lửa, tín hiệu cho trạm bơm xăng ngày xưa. Lão Ngạn thấy hai thái
dương nhức, lão tìm chỗ vắng. Cô con gái chạy đi tìm người đàn
ông mà cô đã giới thiệu với lão:
“Rồi ba sẽ thích bạn trai của con. Anh ấy tên là Trọng, hiền ơi là
hiền”.
Chỉ lát sau, Bích quay lại, dắt theo một người đàn ông vạm vỡ,
cao tới gần một thước tám, da đen, tóc đen. Anh ta bận đồ bộ cỏ úa,
như nhiều sĩ quan chuyển ngành. Một gương mặt dầu dãi nhưng
thành thực:
- Cháu chào bác ạ.
Người đàn ông đưa cả hai tay nắm tay lão, vồn vã chào, và ánh
mắt thân thiện của anh tố cáo niềm si mê anh đã giành cho Bích.
- Vâng chào anh.
Lão già đáp, thầm so sánh hình vóc người đàn ông với tên Ân
Kiều bán vải, nhân tình của mụ vợ trước: To gần như nhau, da đen
gần như nhau, nhưng thằng này hiền hơn... Lòng lão dấy lên mối
thương hại. Người đàn ông đỡ chiếc túi quần áo trong tay lão:
- Bác đi đường có mệt không ạ?
- Cảm ơn anh, cũng thường thường.
- Cháu sẽ đưa bác về nhà ngay.
Đoạn, quay sang Bích:
- Đưa ba về nhà rồi anh sẽ quay lại đón em.
Giọng yêu chiều của người chồng tận tụy. Lão già ngồi lên xe,
nhắm mắt lại:
- Con quỷ cái, nó cũng ghê gớm như mẹ nó ngày xưa.
Lão không nghe tiếng Trọng nhắc nhở:
- Đường xóc lắm, bác ngồi cho vững nhé...
Non nửa giờ sau, Trọng đã đưa lão Ngạn tới nhà. Đó là một biệt
thự nhỏ, nếu có thể gọi như thế, một ngôi nhà hai tầng xinh xắn như
tổ chim cu với những khuôn cửa sổ nhỏ sơn màu ghi và cẩm thạch,
lắp kinh mờ, với những bồn hoa nhỏ trồng thứ hoa giấy hai màu với
những mảng vôi còn thơm nồng mùi nắng. Nơi trú náu thần tiên cho
một cặp uyên ương - lão già thầm nghĩ - nhưng khốn thay cho mày,
hỡi gã đàn ông khờ khạo kia, nó cũng sẽ là nấm mộ táng. Lão lại
nhớ tới căn nhà rộng rênh, sang trọng của mình ngày xưa, giờ chỉ
còn là những vụn gạch vùi dưới một cửa hàng bán sơn, vôi ve, kính
vụn khả ố trong thành phố. Trọng dìu lão Ngạn ngồi vào sa-lông,
pha trà như một chủ nhân hiếu khách rồi mới quay xe đón Bích.
Lão Ngạn ngồi nhấm nháp chén trà đen, thứ trà trồng trên cao
nguyên Blao. Từ khuôn cửa sổ phòng khách, một khóm nhài tỏa mùi
hương đĩ thõa, lẫn mùi sơn cửa hăng hăng vì chưa kịp khô dầu.
Ước chừng non nửa giờ ...
 





