CÁC CA KHÚC KỈ NIỆM NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC
Những tấm lòng cao cả

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 09h:09' 17-11-2024
Dung lượng: 2.1 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 09h:09' 17-11-2024
Dung lượng: 2.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
MỞ ĐẦU
[1]
Hai mươi tuổi chiến đấu vì độc lập, thống nhất
Bốn mươi tuổi đấu tranh cho công bằng xã hội
Trên thế giới, ở nhiều nước người lớn và trẻ em chẳng mấy ai không biết
nhà văn Ý Edmondo De Amicis. Nhưng nhà văn được trẻ em yêu thích ấy lại
không phải là người chuyên viết sách về trẻ em hay cho trẻ em.
De Amicis sinh ngày 31 tháng mười năm 1846 ở Oneglia, xứ Liguria, trên
bờ biển tây bắc bán đảo Ý. Sự nghiệp giải phóng và thống nhất Ý bắt đầu từ
năm 1820, đến năm 1870 mới hoàn thành là phong trào dân tộc lớn nhất lịch
sử châu u trong thế kỷ XIX. Khi trận Custoza thứ nhất đánh quân xâm lược
Áo trong cách mạng 1848 diễn ra thì chú bé Edmondo chưa được hai tuổi;
nhưng trận Custoza thứ hai diễn ra, thì người sĩ quan mới tốt nghiệp chưa đầy
hai mươi tuổi De Amicis đã có mặt trên chiến trường, ngày 24 tháng sáu 1866
ấy, chiến đấu dưới lá cờ ba màu, trong hàng ngũ quân đội Ý. Người thanh
niên ấy cũng bắt đầu viết văn, và hai năm sau tác phẩm đầu tay ra đời, tập hợp
một số truyện vừa dưới nhan đề Cuộc đời quân ngũ (La Vita Militare, 1868).
Nước nhà độc lập, thống nhất rồi, De Amicis từ giã “cuộc đời quân ngũ” đi
du lịch nước ngoài, để sáng tác theo một thể tài khác: thể du ký. Và các tác
phẩm kế tiếp nhau ra đời: Tây Ban Nha (1873), Hà Lan (l874), Maroc (1876),
Constantinopolis (1878-79) và cuốn Chân dung văn hào (Ritratti letterari,
1881) được viết để tỏ lòng ngưỡng mộ những nhà văn lớn đương thời.
Thống nhất xong, năm 1871 nước Ý đông dân mà rất nghèo, công nghiệp
chưa có gì, địa chủ chiếm những diện tích mênh mông, dân số tăng nhanh,
người Ý phải di cư rất nhiều đến đất khách quê người kiếm ăn, mỗi năm trung
bình hơn nửa triệu, có năm gần một triệu, nhiều nhất thế giới. Di dân là vấn
đề rất lớn trong đời sống nước Ý, đã được De Amicis chú ý và đầu tiên lấy
làm đề tài cho một tác phẩm: Trên đại dương (Sull'oceano). Năm sau, 1890,
lại tiếp theo cuốn Truyện một người chủ (Il romanzo d'un maestro).
Cũng từ năm ấy ở Ý chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh, và người theo chủ
nghĩa Marx ngày càng đông: trên đảo Sicilia nông dân tổ chức những hiệp
hội, và từ năm 1893 đã bắt đầu nổi dậy. Không sống bàng quan, ngay năm
1891 De Amicis đã tham gia Đảng xã hội Ý là thành viên của Đệ nhị Quốc tế,
và từ đấy đấu tranh không ngừng cho công bằng xã hội, cho đời sống của
người nghèo khổ và dân lao động; văn nhân biến thành chiến sĩ, diễn thuyết
khắp nơi, rất nhiệt thành về các vấn đề xã hội; sau thu nhập những diễn văn
ấy xuất bản thành tập Vấn đề xã hội (Questione sociale, l894). Đảng mình bị
khủng bố dữ, De Amicis vẫn chiến đấu không ngừng. Những cuộc nổi dậy
của quần chúng nghèo khổ và những đợt đàn áp của chính quyền tư sản đều
được lấy làm đề tài cho luận văn chính trị Nội chiến (Lotte civili, 1899).
Trong cuộc đời mình, chưa đến hai mươi tuổi nhà văn Ý ấy đã chiến đấu
cho độc lập và thống nhất của đất nước, ngoài bốn mươi tuổi lại phải đấu
tranh cho đến trọn đời vì thắng lợi của công bằng xã hội; và De Amicis qua
đời ở Bordighera tỉnh Genova, ngày 12 tháng ba năm 1908, hưởng thọ 61
tuổi.
Cầm bút hơn bốn mươi năm, một nửa thời gian De Amicis chuyên viết du
ký và phê bình văn học, một nửa viết về các chủ đề chính trị và xã hội, tác
phẩm để lại cũng khá nhiều và sinh thời của tác giả cũng gây ra tiếng vang
không ít; nhưng mà thành công nhất có lẽ lại là hai cuốn sách nhỏ viết nhẹ
nhàng, thoải mái, tựa hồ chẳng đòi hỏi của tác giả lắm công phu, nhiều nhiệt
tình như mọi cuốn khác: Những người bạn dí dỏm, thân mật, đầy lòng thương
người, và nhất là Tấm lòng (Cuore) mà thế giới quen gọi là Những tấm lòng
cao cả, ra đời vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước, và gần một trăm năm
nay đã làm cho De Amlcis nổi tiếng khắp thế giới. Nhưng được như vậy
chính là vì cuốn Cuore ấy mang một hoài bão thiết tha của tác giả, “bấy lâu
nay một chút lòng…”
Hoài bão xây dựng đạo đức cho thế hệ tương lai
Một cậu bé người Ý, Enrico Bottini, hàng ngày ghi lại những việc lớn nhỏ
diễn ra trong đời học sinh của cậu, những cảm tưởng và suy nghĩ của cậu
thành một cuốn nhật ký. Mỗi tháng, thầy giáo cho phép một truyện để đọc
trong lớp, mỗi tháng, bố hay mẹ viết cho con một lá thư; các thư và truyện ấy
đều được xếp vào cuốn nhật ký. Ghi chép trong mười tháng, đó là một cuốn
truyện nhỏ về năm học của cậu bé mười một tuổi.
Nhân vật trong nhật ký là các cô giáo, thầy giáo, các bạn học của Enrico, là
bố, mẹ Enrico, cùng bố mẹ các bạn; mỗi người một vẻ, có một đặc điểm nhất
định về mặt thể chất hay tinh thần, nhất là các bạn của Enrico. Tính cách các
nhân vật đã được cách điệu hóa để tiêu biểu cho một nết tốt, hay chỉ là một
thói quen, vì đấy không phải là một tác phẩm phản ánh nền giáo dục ở nước
Ý cuối thế kỷ XIX, mà là một tác phẩm mượn hình tượng nghệ thuật để trình
bày những điều suy nghĩ về đức dục ở nhà trường và gia đình, mà tác giả
mang trong óc như một lý tưởng, và trong lòng như một hoài bão. Trong các
trang nhật ký của mình, Enrico không phải chỉ ghi những việc mà ở trường có
vai trò của cô giáo, thầy giáo, mà còn chép cả những việc ở nhà có vai trò của
bố mẹ mình, lại cũng không bỏ qua một số việc xảy ra ngoài phố với sự tham
gia của người ngoài. Rõ ràng De Amicis quan niệm rất đúng rằng muốn dạy
đạo đức cho trẻ, phải có ba mặt giáo dục tốt: của nhà trường, của gia đình và
của xã hội. Cô giáo, thầy giáo trước tiên phải thương yêu học trò. Coretti vác
củi từ năm giờ sáng, vào lớp ngủ thiếp đi, thầy Perboni để đến hết giờ mới
đánh thức dậy, rồi ôm đầu cậu trong hai tay, hôn vào tóc cậu và nói. “Thầy
không mắng đâu. Thầy biết là trước khi đến lớp con đã phải làm lụng nhiều”.
Cuối năm, học sinh thi đều khá; để làm cho họ vui, thầy giáo tóc đã hoa râm
và không bao giờ cười ấy lại làm bộ trượt chân, phải bám vào tường cho khỏi
ngã. Phải chăng đó là “cái phút vui độc nhất của thầy? một sự đền bù cho chín
tháng trời yêu thương, kiên nhẫn và phiền muộn nữa?” Enrico ghi vào nhật ký
như thế. Thầy có vật kỷ niệm là ảnh các học trò cũ tặng, đã ngoài hai mươi
năm thầy treo đầu giường và nói: “Khi sắp chết, thì cái nhìn cuối cùng của
thầy sẽ quay về họ”.
Cụ già Crosetti, sau sáu mươi năm dạy học, vẫn chưa muốn nghỉ - ở nước
Ý thuở ấy cô giáo, thầy giáo không có lệ phải về hưu, vì kinh nghiệm và
lương tâm của nhà giáo càng thâm niên càng được xã hội quý trọng - nhưng
vì run tay trót đánh rơi một giọt mực lên trang vở của học sinh, cụ đành phải
xin về. Và cụ tâm sự: “Thật lả cay đắng, cay đắng hết sức… tôi hiểu rằng
cuộc đời với tôi như vậy là hết rồi, không có trường học nữa, không còn có
sức trẻ nữa, tôi cũng không sống được bao lâu nữa”. Sau sáu mươi năm tận
tụy với nghề, cụ giáo Crosetti chỉ có một căn nhà trống trải, tấm ván tồi tàn
làm giường ngủ, mẩu bánh mì với chai dầu làm bữa ăn, khiến cho học trò đã
hai thứ tóc trên đầu, không khỏi suy nghĩ: “Đó là tất cả phần thưởng của
thầy”. Nhiều cô giáo, thầy giáo đã xem nghề mình là lẽ sống, là cuộc đời của
mình. Và ở trường học cũng có những liệt sĩ hy sinh như ở chiến trường. Cô
giáo lớp một trên của Enrico ho không ngớt, nhưng tiếng của cô luôn luôn át
cả lớp học, cô nói không nghỉ để học sinh nhỏ không thể lơ đễnh được. Cô có
thể sống thêm nếu xin nghỉ dạy, nhưng không muốn xa học trò, cô cứ dạy cho
hết năm, và cô đã mất ba ngày trước khi dạy hết chương trình.
Vĩnh biệt học trò cô ôm hôn tất cả, rồi vừa khóc vừa chạy nhanh ra khỏi
lớp. Cô để lại cho học trò tất cả những gì cô có trên đời, và trước khi chết, yêu
cầu thầy hiệu trưởng đừng cho học trò đi theo đám tang, sợ các em khóc. Qua
bút mực của trẻ con, De Amicis đã viết một thiên trường ca cảm động về nghề
dạy học, với những hình tượng cô giáo, thầy giáo, tuy chỉ có vài nét chấm
phá, nhưng không dễ mà quên được. Trong gia đình Enrico, tháng nào bố hay
mẹ cũng viết cho con một lá thư, không phải vì đi đâu gửi về, mà ở ngay
trong nhà viết đưa cho con đọc và suy nghĩ; thư thì khuyên răn, thư thì cảnh
cáo, có khi là trách mắng. Đó là những trường hợp phải “nói chuyện” với con
một cách trang nghiêm. Trong một xã hội văn minh, những người bố, mẹ
không phải chỉ là trông nom, săn sóc con mình, mà còn biết quan tâm đến con
người khác, đến trẻ nói chung nữa. Có một trang ký của Enrico riêng tả
“những người bố, mẹ học sinh”, chẳng qua De Amicis đã mượn bút của trẻ để
nói chuyện với người lớn. Và vì thế mà Những tấm lòng cao cả không phải
chỉ là một cuốn sách riêng dành cho thiếu nhi, mà lại còn là một cuốn sách
viết cho cô giáo, thầy giáo cho bố mẹ học sinh và cho những người lớn trong
xã hội nữa.
Và đối với các bạn đọc ấy của mình, De Amicis muốn nói gì về vấn đề dạy
dỗ con trẻ?
Dạy trẻ nên dạy những gì?
Trước tiên trẻ phải thật thà, không được dối trá, dù có lợi cho mình, hay là
chỉ để tránh nguy hiểm thời. De Amicis qua lời Garrone khuyên Garoffi thú
tội, rồi lời ông Bottini dạy con, mấy lần nhắc rằng thật thà là một bổn phận.
Trong các tính xấu, De Amicis muốn trẻ tránh nhất là tính hèn nhát. Thầy
Perboni hiền từ như thế, nhưng khi bọn thằng Franti xúm lại đánh Crossi, đã
phải nổi cơn thịnh nộ chính đáng: “Các cậu đi làm một việc hèn hạ nhất và
nhục nhã nhất, có thể bôi nhọ lương tâm con người: các cậu là những kẻ hèn
nhát!” Lạm dụng lòng tốt của người khác cũng là hèn: khi cả lớp làm ồn trong
giờ thầy phụ giáo trẻ tuổi, Garrone chỉnh các bạn: “Các cậu lạm dụng lòng tốt
của thầy, việc làm của các cậu hèn nhát lắm”.
Đầu năm học, ông Bottini viết cho Enrico lá thư gợi lên hình ảnh trẻ em tất
cả các nước trên thế giới đi đến trường học như một đạo quân lớn, để khuyên
con: “Đừng bao giờ làm một người lính nhát gan”. De Amicis quan niệm rằng
lười biếng cũng là hèn nhát vì thiếu chí khí, thiếu quyết tâm trong bổn phận
học tập. Trong bức thư viết cho Enrico, không có lá thư nào của ông bà
Bottini mà nghiêm khắc như hai bức thư trách mắng con thiếu lễ độ khi ăn nói
với bố mẹ. “Thà rằng bố phải thấy con chết đi, còn hơn là thấy con bội bạc
với mẹ con…” Con còn phải giúp đỡ bố mẹ nữa: Giulio bốn tháng trời thức
thâu đêm viết thuê giúp bố, nhưng giấu bố, dù phải cay đắng chịu đựng những
lời trách cứ bất công vì hiểu lầm của bố. Thầy giáo lại cho Enrico đọc nhiều
truyện rất cảm động như Ferruccio đưa thân đón lưỡi dao của tên côn đồ hạ
sát bà ngoại, và hy sinh để cứu sống bà, như Marco mười ba tuổi, đi tìm mẹ
sáu mươi ngày không nghỉ, vượt đại dương bao la, ngược những dòng sông
xa lạ, qua những sa mạc hoang vu, những núi rừng bí hiểm, chịu đói rét, ốm
đau, mê sảng, để cho người lạ hành hạ đánh chửi, nhưng cứ phía trước mà đi,
cho kỳ đến khi gặp lại mẹ. Dạy trẻ những bổn phận đối với bố mẹ và gia đình
là việc nhà trường làm, thì dạy trẻ những bổn phận đó với thầy, với bạn, với
nhà trường lại là việc của gia đình; dường như De Amicis đã có ý phân công
như vậy. Học sinh kính yêu cô giáo, thầy giáo vì bố mẹ họ kính yêu, và vì
trong xã hội cô giáo, thầy giáo cũng được mọi người kính yêu nữa. Ngày phát
phần thưởng, ông bồi thẩm kết thúc buổi lễ, nhắc học sinh: “Ra khỏi đây các
cháu không được quên gửi một cái chào và một lời cám ơn đến những người
đã vì các cháu mà không quản bao mệt nhọc, những người đã hiến tất cả sức
mạnh của trí thông minh và lòng dũng cảm cho các cháu, những người sống
chết vì các cháu, và họ đây này” Rồi ông chỉ tay về phía các cô giáo, thầy
giáo.
Trường học là một gia đình, học sinh như anh em phải thương yêu nhau,
và muốn có tình thương yêu chân thành tất cả phải chống một số tính xấu.
Cần dạy trẻ không nên chưng diện và khoe khoang, Votini vì luôn nghĩ đến
mình, nên không những khoe khoang, mà còn tự phụ, đố kỵ, ghen ty với các
bạn nữa, và thầy Perboni phải bảo dè chừng: “Đừng để cho con rắn ghen tị
luồn vào tim. Đó là con rắn độc, nó gặm mòn khối óc và làm đồi bại trái tim”.
Muốn có tình bạn tất phải để và biết sống vì bạn: Enrico mời Precossi đến nhà
chơi “những muốn đem biếu cậu tất cả đồ chơi và tất cả sách học của mình,
muốn nhịn miếng bánh mỳ cuối cùng đang ăn để nhường cậu ăn, muốn tự lột
hết áo quấn để nhường cậu mặc”. Thư ông Bottini nói với con “tại sao cậu
yêu đất nước của cậu” kết thúc rằng giá trong một trận chiến đấu vì Tổ quốc
mà con trốn tránh nguy hiểm “thì bố của con sẽ đón con với một tiếng nấc
đau đớn; và bố sẽ chết với nhát dao găm ấy đâm vào tim”. Thầy Perboni thì
cho học sinh đọc hai truyện thiếu niên anh hùng: Cậu bé đánh trống người
Sardegna, trong trận Custoza bị đạn vẫn cố làm tròn nhiệm vụ, nên phải cưa
một chân, và trên bàn mổ không hề kêu một tiếng. Cậu bé trinh sát người
Lombard, chẳng ở trong quân đội, đã hy sinh tính mạng trong khi do thám
tình hình địch cho nghĩa quân. Thi hài nhỏ bé của cậu quấn lá cờ ba màu, và
nét mặt cậu như đang mỉm cười, sung sướng và tự hào vì đã hiến đời mình
cho xứ Lombardia thân yêu của mình. Ông Bottini lại viết thư dạy cơn yêu
“thành phố quê hương của con”, xác định cho con những bổn phận phải làm ở
ngoài đường phố, nhắc con rằng tỏ ra có giáo dục ở nơi công cộng là tôn
trọng quê hương mình. “Trình độ giáo dục của một dân tộc có thể đánh giá
qua thái độ của con người trên đường phố. Ở đâu mà thấy cảnh thô lỗ diễn ra
ngoài đường phố thì có thể chắc chắn là sẽ thấy cảnh thô lỗ diễn ra trong các
gia đình vậy”.
Nói chuyện về những trẻ mù, thầy giáo khêu lên trong lòng học sinh tình
thương những bạn xấu số ấy; trẻ em phải được giáo dục lòng nhân đạo. Trong
các bạn của Enrico thì Franti là đứa khốn nạn, vì “cái thằng bụng dạ độc ác
ấy” ai khóc thì nó cười, “chẳng động lòng vì bất cứ cái gì”. Thấy một gánh
xiếc, đàn bà trẻ con lao động nghệ thuật vất vả gian khổ, nguy hiểm, ông
Bottini viết báo ca tụng cậu bé làm xiếc, khiến người xem nô nức kéo đến
chật rạp, giúp cho gánh xiếc. Biết có người đàn bà gặp cảnh túng thiếu, bà
Bottini liền cùng hai con đến giúp quần áo tiền bạc, và ra về ôm hôn đứa con
người đàn bà nghèo khổ, mà mắt đẫm lệ. Viết thư cho con, bà dạy “đừng quen
thói dửng dưng đi qua trước người nghèo khổ, phải biết giúp đỡ cụ già không
nơi nương tựa, bà mẹ không có bánh ăn, đứa bé đang đói, đứa con mất mẹ”,
nhắc rằng đó là “những đức hạnh không thể bỏ qua”. Thầy giáo thì kể chuyện
“Cicillo năm ngày đêm liền trông nom săn sóc một người ốm nặng tưởng là
bố mình, đến khi biết là lầm, vẫn ở lại với người bệnh, dù không biết bác ấy
là ai”. Nhật ký của Enrico ghi lại việc Robetti lao mình ra trước chiếc xe đang
chạy cứu em bé; rồi ở lại bệnh viện ra, đi học phải chống nạng như nhảy lò
cò. Một chuyện khác của thầy giáo kể việc Mario đi biển bị đắm tàu, được
xuống xuồng cấp cứu, đã nhường cho người bạn đường mới quen, vì bạn còn
bố mẹ, mà mình thì côi cút, tứ cố vô thân thích. Tàu đắm, “cậu bé đứng ở mạn
tàu, đầu ngẩng cao, mái tóc bay trước gió, bất động, cao cả, tuyệt vời”; việc
hy sinh của cậu đã đạt đến đỉnh của lòng nhân ái. Sống trong xã hội tư bản
chủ nghĩa, De Amicis thấy phải dạy trẻ yêu quý lao động tay chân và kính
trọng những người lao động, vì “sự cao quý ở lao động chứ không ở trong
đồng lương, ở trong giá trị chứ không ở trong cấp bậc”. De Amicis muốn trẻ
phải yêu, phải kính, trên tất cả mọi sự ở đời phải tôn trọng những người lính
trong mặt trận lao động, những nỗi vất vả và sự hy sinh của họ. “Phải thương
yêu họ vì trong lồng ngực của những người thợ ấy có những trái tim tuyệt
vời”. DeAmicis rất thiệt thà dạy trẻ ý thức mình đang giữa mọi người. Trong
các bài học mà Enrico cho rằng Carlo Nobis có thể sánh với Franti vì nó quá
tự phụ là quý tộc và giàu có. Xã hội Ý thời bấy giờ nhiều người nghèo khổ,
lắm nỗi bất công. Nghĩ đến mùa đông, ông Bottini, hay chính De Amicis
không cầm được lòng thương xót những trẻ không có áo quần, cũng không có
giày, cũng không có lửa sưởi. Lòng thương xót ấy có khi chuyển thành lòng
phẫn nộ, và bà Bottini viết thư cho con, hay chính là De Amlcis nói với bạn
đọc của mình, giọng rít lên đầy uất hận: “Thật là buồn khi nghĩ rằng có những
đàn bà và trẻ em không có gì mà ăn cả! Không có gì mà ăn cả, lạy Chúa tôi!”
Dạy trẻ nên dạy thế nào?
Dạy trẻ phải dịu dàng, nhân từ, nhưng trước lỗi lầm của trẻ thì vẫn nghiêm
khắc. Có lỗi với bạn, ngỡ bạn đánh, Enrico cầm thước kẻ giơ lên, nhưng thấy
bạn làm lành, liền ôm chầm lấy bạn: về nhà kể cho bố nghe, tưởng bố vui
lòng, nào ngờ bố mắng: “Con không được giơ thước dọa một đứa bé tốt hơn
con, dọa con trai của một quân nhân!” Rồi bố giật cái thước bẻ làm đôi.
Người giáo dục khéo cần lợi dụng mọi việc diễn ra, dù lớn dù nhỏ, để uốn
nắn ngay tính nết của trẻ… Thấy Enrico đi qua trước mặt một người mẹ đói
khổ bế con đi xin ăn, mà cứ dửng dưng, bà Bottini viết ngay thư dạy con bổn
phận đối với người nghèo. Ngoài phố, thấy con và phải một người khách qua
đường, ông Bottini viết ngay thư dạy con thái độ trên đường phố. Nhưng việc
giáo dục phải tiến hành rất thận trọng và tế nhị. Bạn con đến chơi, ngồi đầy
bàn ghế, ông Bottini ngăn không cho con phủi ghế trước mặt bạn; bạn con gù
lưng, ông cất bức tranh anh hề gù treo trong phòng khách cho bạn con khỏi
phải trông thấy. Cùng con đi giúp nhà nghèo, không ngờ đấy lại là nhà bạn
con, bà Bottini ngăn không cho con gọi bạn, sợ bạn tủi; nhưng khi bạn trông
thấy chạy ra thì liền đẩy hai trẻ lại cho ôm chầm lấy nhau như hai anh em
ruột. Tháng sáu trẻ ngồi học mà như sắp lên cơn điên, bà Bottini nhắc con là
có những trẻ phải làm lụng ngoài đồng dưới mặt trời đổ lửa, hay bên bờ sông
cuội sỏi cháy bỏng, hay trong sưởng thủy tinh mặt lúc nào cũng cúi sát lò lửa,
phải bắt đầu ngày lao động rất sớm, và chẳng bao giờ được nghỉ lễ, nghỉ hè.
Ông Bottini thì đem con đi thăm những lớp học buổi tối dạy những quân
nhân, những người lao động, để cho con “ngạc nhiên và khâm phục” thái độ
tập trung chăm chú của họ. Lấy việc tốt trong xã hội dạy trẻ đã đành, người
giáo dục lại còn phải tự mình làm gương, làm mẫu cho trẻ noi theo nữa; muốn
con nhớ ơn thầy, ông Bottini đem con đi tìm thầy học của mình để tỏ lòng biết
ơn.
Khi mới ra đời, Những tấm lòng cao cả cũng bị một số dư luận phê bình
khá gay gắt, nào là tính cách nhân vật chỉ một chiều, cách điệu hóa quá thành
ra sơ lược, nào là giọng văn cảm thương quá đáng có khi thành xót xa. Tất
nhiên đó là những chỗ yếu rõ ràng của cuốn sách, nhưng thời gian - người
đánh giá công bằng và đúng đắn nhất - đã công nhận Những tấm lòng cao cả
là tác phẩm có giá trị, không những về nội dung mà cả về văn chương nữa. De
Amicis xây dựng những truyện dù tình tiết có ly kỳ đến mấy, như Cậu viết
thuê, vẫn kết cấu chặt chẽ, các sự kiện diễn ra tự nhiên, mà cách kể truyện thì
linh hoạt nhanh gọn, sắc sảo như trong Một vụ đắm tàu làm người đọc lắm
phen hồi hộp, như trong truyện Cậu bé đánh trống người Sardegna, và nhất là
Từ mạch Appennini đến mạch Andes và Người y tá của Tata.
Nhiều truyện đã kết thúc mà để người đọc cứ bùi ngùi mãi không thôi; cậu
bé làm xiếc lấy tay áo quệt trái lớp phấn trên mặt gửi lên hai má của ân nhân
mình hai cái hôn đáng yêu; ông đại úy già chưa từng nói với ai một lời dịu
dàng bao giờ, tay đưa từ từ và mắt nhìn chằm chằm, chào Cậu bé đánh trống
người Sardegna, chào rồi dang rộng tay ra ôm chầm lấy cậu, siết chặt vào
lòng và hôn ba lần; chào và hôn vì cậu xứng đáng với một người anh hùng
chân chính. Cicillo sau bảy ngày đêm liền săn sóc tận tình người ốm không
quen biết, đến khi người bất hạnh cuộc đời mới “ôm bọc quần áo cũ của
mình, chầm chậm bước ra, người mệt lả, lên đường”, và tác giả kết thúc bằng
chỉ mấy chữ: “Rạng đông vừa hừng sáng…”
Trong Một vụ đắm tàu, Mario nhận lấy cái chết để cho người bạn đường
được sống, truyện cũng kết thúc bằng hai câu ngắn: “Giulietta úp mặt vào hai
tay. Khi cô ngửng đầu lên và nhìn ra biển, chiếc tàu đã biến mất rồi…” “Rạng
đông vừa hừng sáng” và “chiếc tàu đã biến mất rồi”, chỉ đơn giản thế thôi,
nhưng dù kết cục của truyện người đọc đã đoán biết trước rồi, đọc đến những
câu cuối như thế ít ai có thể để lòng dửng dưng, và không ít người tuy đã học
đi học lại nhiều lần vẫn khó mà cầm được nước mắt. Văn hay họ phải dải lời.
Nhiều đoạn trong Những tấm lòng cao cả đã làm người đọc xúc động như thế,
lại có những đoạn rất thuyết phục vì lời văn hùng hồn, nhất là những bức thư
bố mẹ viết cho con; mà nhiều bức đã được trích vào sách giáo khoa ở nhiều
nước, nổi tiếng hơn cả là bức thư về Trường học. Truyện đọc hàng tháng cũng
nhiều truyện được trích như thế. Enrico có ghi trong nhật ký là khi chép
truyện Cậu bé trinh sát người Lombard, Derossi “rơm rớm nước mắt, run run
đôi môi”.
Sức tác động của văn chương thấm sâu vào lòng người. Nghệ thuật văn
chương là công cụ giáo dục tốt, vì giáo dục phải tiến hành có nghệ thuật, và
giáo dục chính là một nghệ thuật. Trong văn học Ý, Những tấm lòng cao cả
không giữ địa vị một đại tác, nhưng trong sự nghiệp giáo dục của một thế giới
thì đã có tác dụng không nhỏ, chính vì nội dung rất tốt của tác phẩm, dù cũng
có ít nhiều điều không lấy gì làm hay. Mỗi xã hội, mỗi thời đại giáo dục con
em mình theo yêu cầu của mình, dựa vào những nguyên lý cơ bản của khoa
học giáo dục của mình; tất nhiên là như vậy. Nhưng tác phẩm của những thời
đã qua mà có những điều tốt đẹp, khiến cho tồn tại và lưu truyền thì vẫn có
ích lợi thiết thực và cần nghiên cứu, tham khảo.
Những tấm lòng cao cả của Edmondo De Amicis là một trong những tác
phẩm như vậy.
Hoàng Thiếu Sơn
THÁNG MƯỜI
Ngày khai trường
[2]
Torino thứ hai 17
Hôm nay là ngày khai trường. Mấy tháng nghỉ hè của chúng tôi đã đi qua
như một giấc mộng. Sáng nay, mẹ tôi dắt tôi đến phân hiệu Baretti để ghi tên
tôi vào lớp ba. Còn tôi thì mải nhớ thôn quê, tôi đến trường chỉ là miễn
cưỡng. Tất cả các đường phố đều tấp nập học sinh, đông như kiến. Hai cửa
hiệu bán sách chật những bố mẹ học sinh vào mua nào vở, nào giấy thấm, nào
cặp sách bằng da… Trước trường, người đông đến nỗi ông gác cổng và người
cảnh binh đều phải chật vật lắm mới giữ được thông lối ra. Chúng tôi sắp
bước qua cổng thì thấy có người đặt tay lên vai mình: đó là thầy giáo lớp hai
của tôi, có mái tóc hung, bù xù và tính vui vẻ không bao giờ cạn. Thầy bảo
tôi: “Chúng ta thế là xa nhau mãi rồi, phải không Enrico?”
Tôi cũng biết như vậy, thế mà lời nói của thầy vẫn làm cho lòng tôi nặng
trĩu. Chúng tôi phải chật vật lắm mới vào được trường. Những ông, những bà,
những phụ nữ thường dân, những công nhân, những sĩ quan, những bà cụ và
những người giúp việc, ai cũng tay dắt một trẻ em, tay mang những cái gói,
làm huyên náo cả phòng đợi và các thang gác.
Tôi vui thích thấy lại căn phòng rộng ở tầng dưới thông với bảy lớp học,
mà suốt ba năm gần như ngày nào tôi cũng đi qua. Người đông nghịt. Các cô
giáo đi đi, lại lại. Một cô giáo lớp một đứng trên ngưỡng cửa của lớp cô, chào
tôi và nói:
- Enrico, năm nay con học trên gác, và cô sẽ không còn thấy con đi qua
đây nữa.
Rồi cô nhìn tôi có vẻ buồn. Tôi trông thấy thầy hiệu trưởng, mà bộ râu
hình như có bạc hơn năm ngoái một ít, đang bị vây giữa những bà mẹ khá
phật ý vì không còn chỗ để cho con họ vào học nữa. Tôi thấy nhiều bạn tôi
lớn lên nhiều. Ở tầng dưới, học sinh chia xong vào các lớp, người ta thấy các
em học những lớp vỡ lòng không chịu vào lớp, cứ đẩy nhau như những con
lừa con; người ta phải lôi chúng vào; vài em bỏ chạy không chịu ngồi ghế,
nhiều em khác òa lên khóc khi thấy bố mẹ ra về. Những ông bố, bà mẹ ấy
phải quay lại để khuyến khích hoặc dỗ dành con; còn các cô giáo trông thấy
vậy cũng có nhiều thất vọng.
Em trai tôi được vào lớp của cô giáo Delcati, tôi học lớp thầy giáo Perboni
ở gác hai. Đến mười giờ thì tất cả chúng tôi đều đã vào lớp hết; năm mươi
bốn học sinh tất cả. Trong đám ấy tôi chỉ gặp lại chưa đến mười lăm, mười
sáu bạn cũ lớp hai; trong đó có Derossi, cái cậu bao giờ cũng được giải nhất.
Trường học đối với tôi có vẻ nhỏ hẹp và buồn tẻ làm sao so với rừng núi mà
tôi đã đến ở chơi mấy tuần qua. Tôi lại còn nhớ tiếc thầy giáo lớp hai của tôi,
thầy tốt làm sao, và lúc nào cũng cười với tôi. Người thầy nhỏ nhắn đến nỗi
làm cho chúng tôi cứ tưởng như là một người bạn. Tôi tiếc không được thấy
thầy ở đây, với mái tóc hung bù xù của thầy nữa.
Thầy giáo năm nay của chúng tôi người cao lớn, không có râu, tóc dài đã
hoa râm hết, có một nếp nhăn trên trán, tiếng nói rất to; thầy nhìn chúng tôi
chằm chằm hết đứa này đến đứa khác, như muốn đọc rõ tận trong lòng chúng
tôi. Thầy không bao giờ cười.
Tôi thầm nghĩ: “Hôm nay là ngày đầu tiên đây. Hãy còn những mười tháng
nữa mới lại nghỉ hè. Trước mắt biết bao là công việc, là bài thi, là khó nhọc!”
Tan học, tôi cần phải gặp mẹ tôi, và tôi chạy ra ôm lấy mẹ. Mẹ bảo: “Gắng
lên, Enrico của mẹ. Mẹ con ta sẽ cùng học với nhau!”. Thế là tôi vui vẻ về
nhà. Thôi cũng được! Tôi không còn học với thầy giáo cũ tươi cười thế, vui
tính thế và tốt bụng thế; nhà trường đối với tôi hình như cũng chẳng thích thú
bằng năm ngoái… Nhưng thôi cũng được.
Thầy giáo mới
Thứ ba 18
Thầy giáo mới ngay từ sáng hôm nay đã làm cho tất cả chúng tôi đều rất
thích.
Khi chúng tôi đang lần lượt vào lớp, và thầy đã ngồi vào chỗ của mình,
chốc chốc chúng tôi lại thấy những học trò của thầy năm ngoái, đi qua đều
bước vào cửa chào thầy. “Chào thầy ạ! Chào thầy Perboni ạ!”. Có những cậu
bước vào bắt tay thầy, rồi vội vàng chạy ra. Rõ ràng đám học trò cũ đều rất
mến thầy, và rất muốn lại được học với thầy nữa. Còn thầy thì chỉ thấy trả lời
đơn giản: “Chào cậu”, và bắt những bàn tay chìa ra phía thầy, nhưng chẳng
nhìn ai cả. Mỗi lần chào lại, thầy đều nghiêng mình vẻ nghiêm trang, mặt
quay về phía cửa sổ, nhìn sang mái nhà trước mặt. Đáng lẽ làm cho thầy vui,
thì những sự biểu lộ tình cảm của học trò cũ hình như làm cho thầy đau khổ.
Rồi lại đến lượt thầy nhìn chúng tôi, những học trò mới, hết đứa này đến đứa
khác, một cách chăm chú. Vừa đọc chính tả, thầy vừa bước xuống bục và đi
vào giữa các dãy bàn của chúng tôi. Chợt nhìn thấy một cậu mặt đỏ ửng và
đầy những nốt sưng nhỏ, thầy liền ngừng đọc, lấy hai tay ôm đầu cậu bé, hỏi
cậu làm sao, rồi sờ trán xem cậu có sốt không. Trong lúc đó thì ở sau lưng
thầy một cậu đứng ngay lên trên ghế và bắt đầu múa như con rối.
Thầy giáo quay ngoắt lại, cậu ta hoảng hốt vội ngồi xuống và cúi gầm mặt,
chắc chắn thế nào cũng bị mắng một trận. Nhưng thầy Perboni đặt tay lên vai
cậu bé dại dột và nói: “Đừng làm thế nữa nhé!”. Chỉ thế thôi. Rồi thầy lại trở
về chỗ và đọc nốt bài chính tả.
Xong bài chính tả, thầy lặng thinh nhìn chúng tôi một lúc, rồi nói với
chúng tôi, giọng thầy rất to, nhưng hết sức hiền từ: “Nghe đây, các con ạ!
Chúng ta sẽ sống chung với nhau cả một năm, thầy trò ta đều cố gắng làm sao
cho năm nay thật tốt. Các con phải chăm và ngoan. Thầy không có gia đình.
Chính các con sẽ thay cho gia đình của thầy. Năm ngoái thầy còn mẹ; nhưng
nay mẹ thầy đã mất rồi. Nay thầy chỉ có một mình, thầy chỉ còn các con trên
đời này nữa thôi. Thầy chẳng còn ý nghĩ nào, tình cảm nào ngoài các con ra.
Các con phải là đàn con của thầy. Thầy sẽ rất thương các con, và các con cũng
phải thương thầy. Thầy không muốn phải phạt một ai. Các con hãy tỏ ra cho
thầy thấy là những đứa trẻ chân thành, dũng cảm. Trường học của chúng ta sẽ
là một gia đình, và các con sẽ là niềm an ủi và niềm tự hào của thầy. Thầy
không yêu cầu các con phải trả lời, vì thầy tin chắc rằng trong lòng tất cả các
con đều đã nói “vâng ạ”, và thầy xin cám ơn các con”.
[3]
Vừa lúc ấy thì người gác cổng vào báo hết giờ học . Tất cả chúng tôi đều
im lặng ra khỏi lớp. Cậu học trò lúc nãy đứng lên ghế làm trò, bước lại gần
thầy, và hỏi thầy giọng run run: “Thưa thầy, thầy có tha lỗi cho con không
ạ?”.
Thầy giáo hôn vào trán cậu và nói: “Thế là tốt con ạ! Thôi con về đi”.
Một tai nạn
Thứ sáu 21
Năm học đã bắt đầu bằng một tai họa. Sáng nay, trên đường đi học, tôi
đang kể lại cho bố nghe những lời nói chân thành của thầy Perboni, thì bỗng
thấy đường phố đông nghịt những người. Họ dừng lại trước cổng trường thị
xã. Bố kêu lên:
- Chắc đã xảy ra tai nạn gì rồi!
Chúng tôi phải len vào trường một cách rất khó khăn. Căn phòng lớn chật
ních bố mẹ học sinh, và cả học sinh mà các thầy giáo không tài nào cho vào
lớp được. Tất cả mọi người đều nhìn về phía cửa phòng thầy hiệu trưởng, và
có người nói: “Tội nghiệp cậu bé! Tội nghiệp Robetti!”. Ở tít đằng cuối
phòng lớn, người ta thấy nhô lên trên đám đông cái mũ của một người cảnh
vệ thị xã và cái đầu hói của thầy hiệu trưởng. Một ông đội mũ cao vừa đi vào,
và người ta thì thầm: “Kìa, bác sĩ”.
Bố tôi hỏi một thầy giáo: “Việc gì vậy, thưa thầy?”.
Thầy giáo trả lời: “Xe đè lên chân cậu ấy”.
Một người khác tiếp lời: “Và đã nghiến nát bàn chân cậu ta”.
Người bị nạn là một học sinh lớp hai. Cậu ta đang đi ở đường phố Dora
[4]
Grossa để đến trường, thì thấy một em bé lớp sơ đẳng tuột khỏi tay mẹ và
ngã xuống trước một chiếc xe chở khách đang chạy, chỉ cách xe có một bước.
Lập tức cậu ta dũng cảm lao đến cứu em bé, bế xốc em dậy. Không may bánh
xe đè lên chân cậu bé quả cảm. Cậu ta là con trai ông đại úy pháo binh. Câu
chuyện người ta kể cho chúng tôi đến đó thì một người đàn bà hốt hoảng, rẽ
đám đông đâm bổ vào trong phòng. Đó là mẹ của Robetti, mà người ta vừa
báo cho biết. Một người khác, mẹ của em bé được cứu sống, chạy lại ôm
choàng lấy cổ bà mẹ Robetti mà khóc nức nở, và dìu bà vào trong phòng thầy
hiệu trưởng. Ở bên ngoài, chúng tôi nghe tiếng kêu thất vọng của bà Robetti:
“Ôi, Giulio của mẹ, con yêu dấu của mẹ!”.
Một lát sau, một chiếc xe đỗ trước cổng và thầy hiệu trưởng đi ra, bế cậu
bé bị thương trên tay. Cậu bé đáng thương, mặt tái nhợt, mắt nửa nhắm nửa
mở, đầu tựa lên vai thầy hiệu trưởng. Thấy cậu, mọi người đều im lặng.
Người ...
[1]
Hai mươi tuổi chiến đấu vì độc lập, thống nhất
Bốn mươi tuổi đấu tranh cho công bằng xã hội
Trên thế giới, ở nhiều nước người lớn và trẻ em chẳng mấy ai không biết
nhà văn Ý Edmondo De Amicis. Nhưng nhà văn được trẻ em yêu thích ấy lại
không phải là người chuyên viết sách về trẻ em hay cho trẻ em.
De Amicis sinh ngày 31 tháng mười năm 1846 ở Oneglia, xứ Liguria, trên
bờ biển tây bắc bán đảo Ý. Sự nghiệp giải phóng và thống nhất Ý bắt đầu từ
năm 1820, đến năm 1870 mới hoàn thành là phong trào dân tộc lớn nhất lịch
sử châu u trong thế kỷ XIX. Khi trận Custoza thứ nhất đánh quân xâm lược
Áo trong cách mạng 1848 diễn ra thì chú bé Edmondo chưa được hai tuổi;
nhưng trận Custoza thứ hai diễn ra, thì người sĩ quan mới tốt nghiệp chưa đầy
hai mươi tuổi De Amicis đã có mặt trên chiến trường, ngày 24 tháng sáu 1866
ấy, chiến đấu dưới lá cờ ba màu, trong hàng ngũ quân đội Ý. Người thanh
niên ấy cũng bắt đầu viết văn, và hai năm sau tác phẩm đầu tay ra đời, tập hợp
một số truyện vừa dưới nhan đề Cuộc đời quân ngũ (La Vita Militare, 1868).
Nước nhà độc lập, thống nhất rồi, De Amicis từ giã “cuộc đời quân ngũ” đi
du lịch nước ngoài, để sáng tác theo một thể tài khác: thể du ký. Và các tác
phẩm kế tiếp nhau ra đời: Tây Ban Nha (1873), Hà Lan (l874), Maroc (1876),
Constantinopolis (1878-79) và cuốn Chân dung văn hào (Ritratti letterari,
1881) được viết để tỏ lòng ngưỡng mộ những nhà văn lớn đương thời.
Thống nhất xong, năm 1871 nước Ý đông dân mà rất nghèo, công nghiệp
chưa có gì, địa chủ chiếm những diện tích mênh mông, dân số tăng nhanh,
người Ý phải di cư rất nhiều đến đất khách quê người kiếm ăn, mỗi năm trung
bình hơn nửa triệu, có năm gần một triệu, nhiều nhất thế giới. Di dân là vấn
đề rất lớn trong đời sống nước Ý, đã được De Amicis chú ý và đầu tiên lấy
làm đề tài cho một tác phẩm: Trên đại dương (Sull'oceano). Năm sau, 1890,
lại tiếp theo cuốn Truyện một người chủ (Il romanzo d'un maestro).
Cũng từ năm ấy ở Ý chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh, và người theo chủ
nghĩa Marx ngày càng đông: trên đảo Sicilia nông dân tổ chức những hiệp
hội, và từ năm 1893 đã bắt đầu nổi dậy. Không sống bàng quan, ngay năm
1891 De Amicis đã tham gia Đảng xã hội Ý là thành viên của Đệ nhị Quốc tế,
và từ đấy đấu tranh không ngừng cho công bằng xã hội, cho đời sống của
người nghèo khổ và dân lao động; văn nhân biến thành chiến sĩ, diễn thuyết
khắp nơi, rất nhiệt thành về các vấn đề xã hội; sau thu nhập những diễn văn
ấy xuất bản thành tập Vấn đề xã hội (Questione sociale, l894). Đảng mình bị
khủng bố dữ, De Amicis vẫn chiến đấu không ngừng. Những cuộc nổi dậy
của quần chúng nghèo khổ và những đợt đàn áp của chính quyền tư sản đều
được lấy làm đề tài cho luận văn chính trị Nội chiến (Lotte civili, 1899).
Trong cuộc đời mình, chưa đến hai mươi tuổi nhà văn Ý ấy đã chiến đấu
cho độc lập và thống nhất của đất nước, ngoài bốn mươi tuổi lại phải đấu
tranh cho đến trọn đời vì thắng lợi của công bằng xã hội; và De Amicis qua
đời ở Bordighera tỉnh Genova, ngày 12 tháng ba năm 1908, hưởng thọ 61
tuổi.
Cầm bút hơn bốn mươi năm, một nửa thời gian De Amicis chuyên viết du
ký và phê bình văn học, một nửa viết về các chủ đề chính trị và xã hội, tác
phẩm để lại cũng khá nhiều và sinh thời của tác giả cũng gây ra tiếng vang
không ít; nhưng mà thành công nhất có lẽ lại là hai cuốn sách nhỏ viết nhẹ
nhàng, thoải mái, tựa hồ chẳng đòi hỏi của tác giả lắm công phu, nhiều nhiệt
tình như mọi cuốn khác: Những người bạn dí dỏm, thân mật, đầy lòng thương
người, và nhất là Tấm lòng (Cuore) mà thế giới quen gọi là Những tấm lòng
cao cả, ra đời vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước, và gần một trăm năm
nay đã làm cho De Amlcis nổi tiếng khắp thế giới. Nhưng được như vậy
chính là vì cuốn Cuore ấy mang một hoài bão thiết tha của tác giả, “bấy lâu
nay một chút lòng…”
Hoài bão xây dựng đạo đức cho thế hệ tương lai
Một cậu bé người Ý, Enrico Bottini, hàng ngày ghi lại những việc lớn nhỏ
diễn ra trong đời học sinh của cậu, những cảm tưởng và suy nghĩ của cậu
thành một cuốn nhật ký. Mỗi tháng, thầy giáo cho phép một truyện để đọc
trong lớp, mỗi tháng, bố hay mẹ viết cho con một lá thư; các thư và truyện ấy
đều được xếp vào cuốn nhật ký. Ghi chép trong mười tháng, đó là một cuốn
truyện nhỏ về năm học của cậu bé mười một tuổi.
Nhân vật trong nhật ký là các cô giáo, thầy giáo, các bạn học của Enrico, là
bố, mẹ Enrico, cùng bố mẹ các bạn; mỗi người một vẻ, có một đặc điểm nhất
định về mặt thể chất hay tinh thần, nhất là các bạn của Enrico. Tính cách các
nhân vật đã được cách điệu hóa để tiêu biểu cho một nết tốt, hay chỉ là một
thói quen, vì đấy không phải là một tác phẩm phản ánh nền giáo dục ở nước
Ý cuối thế kỷ XIX, mà là một tác phẩm mượn hình tượng nghệ thuật để trình
bày những điều suy nghĩ về đức dục ở nhà trường và gia đình, mà tác giả
mang trong óc như một lý tưởng, và trong lòng như một hoài bão. Trong các
trang nhật ký của mình, Enrico không phải chỉ ghi những việc mà ở trường có
vai trò của cô giáo, thầy giáo, mà còn chép cả những việc ở nhà có vai trò của
bố mẹ mình, lại cũng không bỏ qua một số việc xảy ra ngoài phố với sự tham
gia của người ngoài. Rõ ràng De Amicis quan niệm rất đúng rằng muốn dạy
đạo đức cho trẻ, phải có ba mặt giáo dục tốt: của nhà trường, của gia đình và
của xã hội. Cô giáo, thầy giáo trước tiên phải thương yêu học trò. Coretti vác
củi từ năm giờ sáng, vào lớp ngủ thiếp đi, thầy Perboni để đến hết giờ mới
đánh thức dậy, rồi ôm đầu cậu trong hai tay, hôn vào tóc cậu và nói. “Thầy
không mắng đâu. Thầy biết là trước khi đến lớp con đã phải làm lụng nhiều”.
Cuối năm, học sinh thi đều khá; để làm cho họ vui, thầy giáo tóc đã hoa râm
và không bao giờ cười ấy lại làm bộ trượt chân, phải bám vào tường cho khỏi
ngã. Phải chăng đó là “cái phút vui độc nhất của thầy? một sự đền bù cho chín
tháng trời yêu thương, kiên nhẫn và phiền muộn nữa?” Enrico ghi vào nhật ký
như thế. Thầy có vật kỷ niệm là ảnh các học trò cũ tặng, đã ngoài hai mươi
năm thầy treo đầu giường và nói: “Khi sắp chết, thì cái nhìn cuối cùng của
thầy sẽ quay về họ”.
Cụ già Crosetti, sau sáu mươi năm dạy học, vẫn chưa muốn nghỉ - ở nước
Ý thuở ấy cô giáo, thầy giáo không có lệ phải về hưu, vì kinh nghiệm và
lương tâm của nhà giáo càng thâm niên càng được xã hội quý trọng - nhưng
vì run tay trót đánh rơi một giọt mực lên trang vở của học sinh, cụ đành phải
xin về. Và cụ tâm sự: “Thật lả cay đắng, cay đắng hết sức… tôi hiểu rằng
cuộc đời với tôi như vậy là hết rồi, không có trường học nữa, không còn có
sức trẻ nữa, tôi cũng không sống được bao lâu nữa”. Sau sáu mươi năm tận
tụy với nghề, cụ giáo Crosetti chỉ có một căn nhà trống trải, tấm ván tồi tàn
làm giường ngủ, mẩu bánh mì với chai dầu làm bữa ăn, khiến cho học trò đã
hai thứ tóc trên đầu, không khỏi suy nghĩ: “Đó là tất cả phần thưởng của
thầy”. Nhiều cô giáo, thầy giáo đã xem nghề mình là lẽ sống, là cuộc đời của
mình. Và ở trường học cũng có những liệt sĩ hy sinh như ở chiến trường. Cô
giáo lớp một trên của Enrico ho không ngớt, nhưng tiếng của cô luôn luôn át
cả lớp học, cô nói không nghỉ để học sinh nhỏ không thể lơ đễnh được. Cô có
thể sống thêm nếu xin nghỉ dạy, nhưng không muốn xa học trò, cô cứ dạy cho
hết năm, và cô đã mất ba ngày trước khi dạy hết chương trình.
Vĩnh biệt học trò cô ôm hôn tất cả, rồi vừa khóc vừa chạy nhanh ra khỏi
lớp. Cô để lại cho học trò tất cả những gì cô có trên đời, và trước khi chết, yêu
cầu thầy hiệu trưởng đừng cho học trò đi theo đám tang, sợ các em khóc. Qua
bút mực của trẻ con, De Amicis đã viết một thiên trường ca cảm động về nghề
dạy học, với những hình tượng cô giáo, thầy giáo, tuy chỉ có vài nét chấm
phá, nhưng không dễ mà quên được. Trong gia đình Enrico, tháng nào bố hay
mẹ cũng viết cho con một lá thư, không phải vì đi đâu gửi về, mà ở ngay
trong nhà viết đưa cho con đọc và suy nghĩ; thư thì khuyên răn, thư thì cảnh
cáo, có khi là trách mắng. Đó là những trường hợp phải “nói chuyện” với con
một cách trang nghiêm. Trong một xã hội văn minh, những người bố, mẹ
không phải chỉ là trông nom, săn sóc con mình, mà còn biết quan tâm đến con
người khác, đến trẻ nói chung nữa. Có một trang ký của Enrico riêng tả
“những người bố, mẹ học sinh”, chẳng qua De Amicis đã mượn bút của trẻ để
nói chuyện với người lớn. Và vì thế mà Những tấm lòng cao cả không phải
chỉ là một cuốn sách riêng dành cho thiếu nhi, mà lại còn là một cuốn sách
viết cho cô giáo, thầy giáo cho bố mẹ học sinh và cho những người lớn trong
xã hội nữa.
Và đối với các bạn đọc ấy của mình, De Amicis muốn nói gì về vấn đề dạy
dỗ con trẻ?
Dạy trẻ nên dạy những gì?
Trước tiên trẻ phải thật thà, không được dối trá, dù có lợi cho mình, hay là
chỉ để tránh nguy hiểm thời. De Amicis qua lời Garrone khuyên Garoffi thú
tội, rồi lời ông Bottini dạy con, mấy lần nhắc rằng thật thà là một bổn phận.
Trong các tính xấu, De Amicis muốn trẻ tránh nhất là tính hèn nhát. Thầy
Perboni hiền từ như thế, nhưng khi bọn thằng Franti xúm lại đánh Crossi, đã
phải nổi cơn thịnh nộ chính đáng: “Các cậu đi làm một việc hèn hạ nhất và
nhục nhã nhất, có thể bôi nhọ lương tâm con người: các cậu là những kẻ hèn
nhát!” Lạm dụng lòng tốt của người khác cũng là hèn: khi cả lớp làm ồn trong
giờ thầy phụ giáo trẻ tuổi, Garrone chỉnh các bạn: “Các cậu lạm dụng lòng tốt
của thầy, việc làm của các cậu hèn nhát lắm”.
Đầu năm học, ông Bottini viết cho Enrico lá thư gợi lên hình ảnh trẻ em tất
cả các nước trên thế giới đi đến trường học như một đạo quân lớn, để khuyên
con: “Đừng bao giờ làm một người lính nhát gan”. De Amicis quan niệm rằng
lười biếng cũng là hèn nhát vì thiếu chí khí, thiếu quyết tâm trong bổn phận
học tập. Trong bức thư viết cho Enrico, không có lá thư nào của ông bà
Bottini mà nghiêm khắc như hai bức thư trách mắng con thiếu lễ độ khi ăn nói
với bố mẹ. “Thà rằng bố phải thấy con chết đi, còn hơn là thấy con bội bạc
với mẹ con…” Con còn phải giúp đỡ bố mẹ nữa: Giulio bốn tháng trời thức
thâu đêm viết thuê giúp bố, nhưng giấu bố, dù phải cay đắng chịu đựng những
lời trách cứ bất công vì hiểu lầm của bố. Thầy giáo lại cho Enrico đọc nhiều
truyện rất cảm động như Ferruccio đưa thân đón lưỡi dao của tên côn đồ hạ
sát bà ngoại, và hy sinh để cứu sống bà, như Marco mười ba tuổi, đi tìm mẹ
sáu mươi ngày không nghỉ, vượt đại dương bao la, ngược những dòng sông
xa lạ, qua những sa mạc hoang vu, những núi rừng bí hiểm, chịu đói rét, ốm
đau, mê sảng, để cho người lạ hành hạ đánh chửi, nhưng cứ phía trước mà đi,
cho kỳ đến khi gặp lại mẹ. Dạy trẻ những bổn phận đối với bố mẹ và gia đình
là việc nhà trường làm, thì dạy trẻ những bổn phận đó với thầy, với bạn, với
nhà trường lại là việc của gia đình; dường như De Amicis đã có ý phân công
như vậy. Học sinh kính yêu cô giáo, thầy giáo vì bố mẹ họ kính yêu, và vì
trong xã hội cô giáo, thầy giáo cũng được mọi người kính yêu nữa. Ngày phát
phần thưởng, ông bồi thẩm kết thúc buổi lễ, nhắc học sinh: “Ra khỏi đây các
cháu không được quên gửi một cái chào và một lời cám ơn đến những người
đã vì các cháu mà không quản bao mệt nhọc, những người đã hiến tất cả sức
mạnh của trí thông minh và lòng dũng cảm cho các cháu, những người sống
chết vì các cháu, và họ đây này” Rồi ông chỉ tay về phía các cô giáo, thầy
giáo.
Trường học là một gia đình, học sinh như anh em phải thương yêu nhau,
và muốn có tình thương yêu chân thành tất cả phải chống một số tính xấu.
Cần dạy trẻ không nên chưng diện và khoe khoang, Votini vì luôn nghĩ đến
mình, nên không những khoe khoang, mà còn tự phụ, đố kỵ, ghen ty với các
bạn nữa, và thầy Perboni phải bảo dè chừng: “Đừng để cho con rắn ghen tị
luồn vào tim. Đó là con rắn độc, nó gặm mòn khối óc và làm đồi bại trái tim”.
Muốn có tình bạn tất phải để và biết sống vì bạn: Enrico mời Precossi đến nhà
chơi “những muốn đem biếu cậu tất cả đồ chơi và tất cả sách học của mình,
muốn nhịn miếng bánh mỳ cuối cùng đang ăn để nhường cậu ăn, muốn tự lột
hết áo quấn để nhường cậu mặc”. Thư ông Bottini nói với con “tại sao cậu
yêu đất nước của cậu” kết thúc rằng giá trong một trận chiến đấu vì Tổ quốc
mà con trốn tránh nguy hiểm “thì bố của con sẽ đón con với một tiếng nấc
đau đớn; và bố sẽ chết với nhát dao găm ấy đâm vào tim”. Thầy Perboni thì
cho học sinh đọc hai truyện thiếu niên anh hùng: Cậu bé đánh trống người
Sardegna, trong trận Custoza bị đạn vẫn cố làm tròn nhiệm vụ, nên phải cưa
một chân, và trên bàn mổ không hề kêu một tiếng. Cậu bé trinh sát người
Lombard, chẳng ở trong quân đội, đã hy sinh tính mạng trong khi do thám
tình hình địch cho nghĩa quân. Thi hài nhỏ bé của cậu quấn lá cờ ba màu, và
nét mặt cậu như đang mỉm cười, sung sướng và tự hào vì đã hiến đời mình
cho xứ Lombardia thân yêu của mình. Ông Bottini lại viết thư dạy cơn yêu
“thành phố quê hương của con”, xác định cho con những bổn phận phải làm ở
ngoài đường phố, nhắc con rằng tỏ ra có giáo dục ở nơi công cộng là tôn
trọng quê hương mình. “Trình độ giáo dục của một dân tộc có thể đánh giá
qua thái độ của con người trên đường phố. Ở đâu mà thấy cảnh thô lỗ diễn ra
ngoài đường phố thì có thể chắc chắn là sẽ thấy cảnh thô lỗ diễn ra trong các
gia đình vậy”.
Nói chuyện về những trẻ mù, thầy giáo khêu lên trong lòng học sinh tình
thương những bạn xấu số ấy; trẻ em phải được giáo dục lòng nhân đạo. Trong
các bạn của Enrico thì Franti là đứa khốn nạn, vì “cái thằng bụng dạ độc ác
ấy” ai khóc thì nó cười, “chẳng động lòng vì bất cứ cái gì”. Thấy một gánh
xiếc, đàn bà trẻ con lao động nghệ thuật vất vả gian khổ, nguy hiểm, ông
Bottini viết báo ca tụng cậu bé làm xiếc, khiến người xem nô nức kéo đến
chật rạp, giúp cho gánh xiếc. Biết có người đàn bà gặp cảnh túng thiếu, bà
Bottini liền cùng hai con đến giúp quần áo tiền bạc, và ra về ôm hôn đứa con
người đàn bà nghèo khổ, mà mắt đẫm lệ. Viết thư cho con, bà dạy “đừng quen
thói dửng dưng đi qua trước người nghèo khổ, phải biết giúp đỡ cụ già không
nơi nương tựa, bà mẹ không có bánh ăn, đứa bé đang đói, đứa con mất mẹ”,
nhắc rằng đó là “những đức hạnh không thể bỏ qua”. Thầy giáo thì kể chuyện
“Cicillo năm ngày đêm liền trông nom săn sóc một người ốm nặng tưởng là
bố mình, đến khi biết là lầm, vẫn ở lại với người bệnh, dù không biết bác ấy
là ai”. Nhật ký của Enrico ghi lại việc Robetti lao mình ra trước chiếc xe đang
chạy cứu em bé; rồi ở lại bệnh viện ra, đi học phải chống nạng như nhảy lò
cò. Một chuyện khác của thầy giáo kể việc Mario đi biển bị đắm tàu, được
xuống xuồng cấp cứu, đã nhường cho người bạn đường mới quen, vì bạn còn
bố mẹ, mà mình thì côi cút, tứ cố vô thân thích. Tàu đắm, “cậu bé đứng ở mạn
tàu, đầu ngẩng cao, mái tóc bay trước gió, bất động, cao cả, tuyệt vời”; việc
hy sinh của cậu đã đạt đến đỉnh của lòng nhân ái. Sống trong xã hội tư bản
chủ nghĩa, De Amicis thấy phải dạy trẻ yêu quý lao động tay chân và kính
trọng những người lao động, vì “sự cao quý ở lao động chứ không ở trong
đồng lương, ở trong giá trị chứ không ở trong cấp bậc”. De Amicis muốn trẻ
phải yêu, phải kính, trên tất cả mọi sự ở đời phải tôn trọng những người lính
trong mặt trận lao động, những nỗi vất vả và sự hy sinh của họ. “Phải thương
yêu họ vì trong lồng ngực của những người thợ ấy có những trái tim tuyệt
vời”. DeAmicis rất thiệt thà dạy trẻ ý thức mình đang giữa mọi người. Trong
các bài học mà Enrico cho rằng Carlo Nobis có thể sánh với Franti vì nó quá
tự phụ là quý tộc và giàu có. Xã hội Ý thời bấy giờ nhiều người nghèo khổ,
lắm nỗi bất công. Nghĩ đến mùa đông, ông Bottini, hay chính De Amicis
không cầm được lòng thương xót những trẻ không có áo quần, cũng không có
giày, cũng không có lửa sưởi. Lòng thương xót ấy có khi chuyển thành lòng
phẫn nộ, và bà Bottini viết thư cho con, hay chính là De Amlcis nói với bạn
đọc của mình, giọng rít lên đầy uất hận: “Thật là buồn khi nghĩ rằng có những
đàn bà và trẻ em không có gì mà ăn cả! Không có gì mà ăn cả, lạy Chúa tôi!”
Dạy trẻ nên dạy thế nào?
Dạy trẻ phải dịu dàng, nhân từ, nhưng trước lỗi lầm của trẻ thì vẫn nghiêm
khắc. Có lỗi với bạn, ngỡ bạn đánh, Enrico cầm thước kẻ giơ lên, nhưng thấy
bạn làm lành, liền ôm chầm lấy bạn: về nhà kể cho bố nghe, tưởng bố vui
lòng, nào ngờ bố mắng: “Con không được giơ thước dọa một đứa bé tốt hơn
con, dọa con trai của một quân nhân!” Rồi bố giật cái thước bẻ làm đôi.
Người giáo dục khéo cần lợi dụng mọi việc diễn ra, dù lớn dù nhỏ, để uốn
nắn ngay tính nết của trẻ… Thấy Enrico đi qua trước mặt một người mẹ đói
khổ bế con đi xin ăn, mà cứ dửng dưng, bà Bottini viết ngay thư dạy con bổn
phận đối với người nghèo. Ngoài phố, thấy con và phải một người khách qua
đường, ông Bottini viết ngay thư dạy con thái độ trên đường phố. Nhưng việc
giáo dục phải tiến hành rất thận trọng và tế nhị. Bạn con đến chơi, ngồi đầy
bàn ghế, ông Bottini ngăn không cho con phủi ghế trước mặt bạn; bạn con gù
lưng, ông cất bức tranh anh hề gù treo trong phòng khách cho bạn con khỏi
phải trông thấy. Cùng con đi giúp nhà nghèo, không ngờ đấy lại là nhà bạn
con, bà Bottini ngăn không cho con gọi bạn, sợ bạn tủi; nhưng khi bạn trông
thấy chạy ra thì liền đẩy hai trẻ lại cho ôm chầm lấy nhau như hai anh em
ruột. Tháng sáu trẻ ngồi học mà như sắp lên cơn điên, bà Bottini nhắc con là
có những trẻ phải làm lụng ngoài đồng dưới mặt trời đổ lửa, hay bên bờ sông
cuội sỏi cháy bỏng, hay trong sưởng thủy tinh mặt lúc nào cũng cúi sát lò lửa,
phải bắt đầu ngày lao động rất sớm, và chẳng bao giờ được nghỉ lễ, nghỉ hè.
Ông Bottini thì đem con đi thăm những lớp học buổi tối dạy những quân
nhân, những người lao động, để cho con “ngạc nhiên và khâm phục” thái độ
tập trung chăm chú của họ. Lấy việc tốt trong xã hội dạy trẻ đã đành, người
giáo dục lại còn phải tự mình làm gương, làm mẫu cho trẻ noi theo nữa; muốn
con nhớ ơn thầy, ông Bottini đem con đi tìm thầy học của mình để tỏ lòng biết
ơn.
Khi mới ra đời, Những tấm lòng cao cả cũng bị một số dư luận phê bình
khá gay gắt, nào là tính cách nhân vật chỉ một chiều, cách điệu hóa quá thành
ra sơ lược, nào là giọng văn cảm thương quá đáng có khi thành xót xa. Tất
nhiên đó là những chỗ yếu rõ ràng của cuốn sách, nhưng thời gian - người
đánh giá công bằng và đúng đắn nhất - đã công nhận Những tấm lòng cao cả
là tác phẩm có giá trị, không những về nội dung mà cả về văn chương nữa. De
Amicis xây dựng những truyện dù tình tiết có ly kỳ đến mấy, như Cậu viết
thuê, vẫn kết cấu chặt chẽ, các sự kiện diễn ra tự nhiên, mà cách kể truyện thì
linh hoạt nhanh gọn, sắc sảo như trong Một vụ đắm tàu làm người đọc lắm
phen hồi hộp, như trong truyện Cậu bé đánh trống người Sardegna, và nhất là
Từ mạch Appennini đến mạch Andes và Người y tá của Tata.
Nhiều truyện đã kết thúc mà để người đọc cứ bùi ngùi mãi không thôi; cậu
bé làm xiếc lấy tay áo quệt trái lớp phấn trên mặt gửi lên hai má của ân nhân
mình hai cái hôn đáng yêu; ông đại úy già chưa từng nói với ai một lời dịu
dàng bao giờ, tay đưa từ từ và mắt nhìn chằm chằm, chào Cậu bé đánh trống
người Sardegna, chào rồi dang rộng tay ra ôm chầm lấy cậu, siết chặt vào
lòng và hôn ba lần; chào và hôn vì cậu xứng đáng với một người anh hùng
chân chính. Cicillo sau bảy ngày đêm liền săn sóc tận tình người ốm không
quen biết, đến khi người bất hạnh cuộc đời mới “ôm bọc quần áo cũ của
mình, chầm chậm bước ra, người mệt lả, lên đường”, và tác giả kết thúc bằng
chỉ mấy chữ: “Rạng đông vừa hừng sáng…”
Trong Một vụ đắm tàu, Mario nhận lấy cái chết để cho người bạn đường
được sống, truyện cũng kết thúc bằng hai câu ngắn: “Giulietta úp mặt vào hai
tay. Khi cô ngửng đầu lên và nhìn ra biển, chiếc tàu đã biến mất rồi…” “Rạng
đông vừa hừng sáng” và “chiếc tàu đã biến mất rồi”, chỉ đơn giản thế thôi,
nhưng dù kết cục của truyện người đọc đã đoán biết trước rồi, đọc đến những
câu cuối như thế ít ai có thể để lòng dửng dưng, và không ít người tuy đã học
đi học lại nhiều lần vẫn khó mà cầm được nước mắt. Văn hay họ phải dải lời.
Nhiều đoạn trong Những tấm lòng cao cả đã làm người đọc xúc động như thế,
lại có những đoạn rất thuyết phục vì lời văn hùng hồn, nhất là những bức thư
bố mẹ viết cho con; mà nhiều bức đã được trích vào sách giáo khoa ở nhiều
nước, nổi tiếng hơn cả là bức thư về Trường học. Truyện đọc hàng tháng cũng
nhiều truyện được trích như thế. Enrico có ghi trong nhật ký là khi chép
truyện Cậu bé trinh sát người Lombard, Derossi “rơm rớm nước mắt, run run
đôi môi”.
Sức tác động của văn chương thấm sâu vào lòng người. Nghệ thuật văn
chương là công cụ giáo dục tốt, vì giáo dục phải tiến hành có nghệ thuật, và
giáo dục chính là một nghệ thuật. Trong văn học Ý, Những tấm lòng cao cả
không giữ địa vị một đại tác, nhưng trong sự nghiệp giáo dục của một thế giới
thì đã có tác dụng không nhỏ, chính vì nội dung rất tốt của tác phẩm, dù cũng
có ít nhiều điều không lấy gì làm hay. Mỗi xã hội, mỗi thời đại giáo dục con
em mình theo yêu cầu của mình, dựa vào những nguyên lý cơ bản của khoa
học giáo dục của mình; tất nhiên là như vậy. Nhưng tác phẩm của những thời
đã qua mà có những điều tốt đẹp, khiến cho tồn tại và lưu truyền thì vẫn có
ích lợi thiết thực và cần nghiên cứu, tham khảo.
Những tấm lòng cao cả của Edmondo De Amicis là một trong những tác
phẩm như vậy.
Hoàng Thiếu Sơn
THÁNG MƯỜI
Ngày khai trường
[2]
Torino thứ hai 17
Hôm nay là ngày khai trường. Mấy tháng nghỉ hè của chúng tôi đã đi qua
như một giấc mộng. Sáng nay, mẹ tôi dắt tôi đến phân hiệu Baretti để ghi tên
tôi vào lớp ba. Còn tôi thì mải nhớ thôn quê, tôi đến trường chỉ là miễn
cưỡng. Tất cả các đường phố đều tấp nập học sinh, đông như kiến. Hai cửa
hiệu bán sách chật những bố mẹ học sinh vào mua nào vở, nào giấy thấm, nào
cặp sách bằng da… Trước trường, người đông đến nỗi ông gác cổng và người
cảnh binh đều phải chật vật lắm mới giữ được thông lối ra. Chúng tôi sắp
bước qua cổng thì thấy có người đặt tay lên vai mình: đó là thầy giáo lớp hai
của tôi, có mái tóc hung, bù xù và tính vui vẻ không bao giờ cạn. Thầy bảo
tôi: “Chúng ta thế là xa nhau mãi rồi, phải không Enrico?”
Tôi cũng biết như vậy, thế mà lời nói của thầy vẫn làm cho lòng tôi nặng
trĩu. Chúng tôi phải chật vật lắm mới vào được trường. Những ông, những bà,
những phụ nữ thường dân, những công nhân, những sĩ quan, những bà cụ và
những người giúp việc, ai cũng tay dắt một trẻ em, tay mang những cái gói,
làm huyên náo cả phòng đợi và các thang gác.
Tôi vui thích thấy lại căn phòng rộng ở tầng dưới thông với bảy lớp học,
mà suốt ba năm gần như ngày nào tôi cũng đi qua. Người đông nghịt. Các cô
giáo đi đi, lại lại. Một cô giáo lớp một đứng trên ngưỡng cửa của lớp cô, chào
tôi và nói:
- Enrico, năm nay con học trên gác, và cô sẽ không còn thấy con đi qua
đây nữa.
Rồi cô nhìn tôi có vẻ buồn. Tôi trông thấy thầy hiệu trưởng, mà bộ râu
hình như có bạc hơn năm ngoái một ít, đang bị vây giữa những bà mẹ khá
phật ý vì không còn chỗ để cho con họ vào học nữa. Tôi thấy nhiều bạn tôi
lớn lên nhiều. Ở tầng dưới, học sinh chia xong vào các lớp, người ta thấy các
em học những lớp vỡ lòng không chịu vào lớp, cứ đẩy nhau như những con
lừa con; người ta phải lôi chúng vào; vài em bỏ chạy không chịu ngồi ghế,
nhiều em khác òa lên khóc khi thấy bố mẹ ra về. Những ông bố, bà mẹ ấy
phải quay lại để khuyến khích hoặc dỗ dành con; còn các cô giáo trông thấy
vậy cũng có nhiều thất vọng.
Em trai tôi được vào lớp của cô giáo Delcati, tôi học lớp thầy giáo Perboni
ở gác hai. Đến mười giờ thì tất cả chúng tôi đều đã vào lớp hết; năm mươi
bốn học sinh tất cả. Trong đám ấy tôi chỉ gặp lại chưa đến mười lăm, mười
sáu bạn cũ lớp hai; trong đó có Derossi, cái cậu bao giờ cũng được giải nhất.
Trường học đối với tôi có vẻ nhỏ hẹp và buồn tẻ làm sao so với rừng núi mà
tôi đã đến ở chơi mấy tuần qua. Tôi lại còn nhớ tiếc thầy giáo lớp hai của tôi,
thầy tốt làm sao, và lúc nào cũng cười với tôi. Người thầy nhỏ nhắn đến nỗi
làm cho chúng tôi cứ tưởng như là một người bạn. Tôi tiếc không được thấy
thầy ở đây, với mái tóc hung bù xù của thầy nữa.
Thầy giáo năm nay của chúng tôi người cao lớn, không có râu, tóc dài đã
hoa râm hết, có một nếp nhăn trên trán, tiếng nói rất to; thầy nhìn chúng tôi
chằm chằm hết đứa này đến đứa khác, như muốn đọc rõ tận trong lòng chúng
tôi. Thầy không bao giờ cười.
Tôi thầm nghĩ: “Hôm nay là ngày đầu tiên đây. Hãy còn những mười tháng
nữa mới lại nghỉ hè. Trước mắt biết bao là công việc, là bài thi, là khó nhọc!”
Tan học, tôi cần phải gặp mẹ tôi, và tôi chạy ra ôm lấy mẹ. Mẹ bảo: “Gắng
lên, Enrico của mẹ. Mẹ con ta sẽ cùng học với nhau!”. Thế là tôi vui vẻ về
nhà. Thôi cũng được! Tôi không còn học với thầy giáo cũ tươi cười thế, vui
tính thế và tốt bụng thế; nhà trường đối với tôi hình như cũng chẳng thích thú
bằng năm ngoái… Nhưng thôi cũng được.
Thầy giáo mới
Thứ ba 18
Thầy giáo mới ngay từ sáng hôm nay đã làm cho tất cả chúng tôi đều rất
thích.
Khi chúng tôi đang lần lượt vào lớp, và thầy đã ngồi vào chỗ của mình,
chốc chốc chúng tôi lại thấy những học trò của thầy năm ngoái, đi qua đều
bước vào cửa chào thầy. “Chào thầy ạ! Chào thầy Perboni ạ!”. Có những cậu
bước vào bắt tay thầy, rồi vội vàng chạy ra. Rõ ràng đám học trò cũ đều rất
mến thầy, và rất muốn lại được học với thầy nữa. Còn thầy thì chỉ thấy trả lời
đơn giản: “Chào cậu”, và bắt những bàn tay chìa ra phía thầy, nhưng chẳng
nhìn ai cả. Mỗi lần chào lại, thầy đều nghiêng mình vẻ nghiêm trang, mặt
quay về phía cửa sổ, nhìn sang mái nhà trước mặt. Đáng lẽ làm cho thầy vui,
thì những sự biểu lộ tình cảm của học trò cũ hình như làm cho thầy đau khổ.
Rồi lại đến lượt thầy nhìn chúng tôi, những học trò mới, hết đứa này đến đứa
khác, một cách chăm chú. Vừa đọc chính tả, thầy vừa bước xuống bục và đi
vào giữa các dãy bàn của chúng tôi. Chợt nhìn thấy một cậu mặt đỏ ửng và
đầy những nốt sưng nhỏ, thầy liền ngừng đọc, lấy hai tay ôm đầu cậu bé, hỏi
cậu làm sao, rồi sờ trán xem cậu có sốt không. Trong lúc đó thì ở sau lưng
thầy một cậu đứng ngay lên trên ghế và bắt đầu múa như con rối.
Thầy giáo quay ngoắt lại, cậu ta hoảng hốt vội ngồi xuống và cúi gầm mặt,
chắc chắn thế nào cũng bị mắng một trận. Nhưng thầy Perboni đặt tay lên vai
cậu bé dại dột và nói: “Đừng làm thế nữa nhé!”. Chỉ thế thôi. Rồi thầy lại trở
về chỗ và đọc nốt bài chính tả.
Xong bài chính tả, thầy lặng thinh nhìn chúng tôi một lúc, rồi nói với
chúng tôi, giọng thầy rất to, nhưng hết sức hiền từ: “Nghe đây, các con ạ!
Chúng ta sẽ sống chung với nhau cả một năm, thầy trò ta đều cố gắng làm sao
cho năm nay thật tốt. Các con phải chăm và ngoan. Thầy không có gia đình.
Chính các con sẽ thay cho gia đình của thầy. Năm ngoái thầy còn mẹ; nhưng
nay mẹ thầy đã mất rồi. Nay thầy chỉ có một mình, thầy chỉ còn các con trên
đời này nữa thôi. Thầy chẳng còn ý nghĩ nào, tình cảm nào ngoài các con ra.
Các con phải là đàn con của thầy. Thầy sẽ rất thương các con, và các con cũng
phải thương thầy. Thầy không muốn phải phạt một ai. Các con hãy tỏ ra cho
thầy thấy là những đứa trẻ chân thành, dũng cảm. Trường học của chúng ta sẽ
là một gia đình, và các con sẽ là niềm an ủi và niềm tự hào của thầy. Thầy
không yêu cầu các con phải trả lời, vì thầy tin chắc rằng trong lòng tất cả các
con đều đã nói “vâng ạ”, và thầy xin cám ơn các con”.
[3]
Vừa lúc ấy thì người gác cổng vào báo hết giờ học . Tất cả chúng tôi đều
im lặng ra khỏi lớp. Cậu học trò lúc nãy đứng lên ghế làm trò, bước lại gần
thầy, và hỏi thầy giọng run run: “Thưa thầy, thầy có tha lỗi cho con không
ạ?”.
Thầy giáo hôn vào trán cậu và nói: “Thế là tốt con ạ! Thôi con về đi”.
Một tai nạn
Thứ sáu 21
Năm học đã bắt đầu bằng một tai họa. Sáng nay, trên đường đi học, tôi
đang kể lại cho bố nghe những lời nói chân thành của thầy Perboni, thì bỗng
thấy đường phố đông nghịt những người. Họ dừng lại trước cổng trường thị
xã. Bố kêu lên:
- Chắc đã xảy ra tai nạn gì rồi!
Chúng tôi phải len vào trường một cách rất khó khăn. Căn phòng lớn chật
ních bố mẹ học sinh, và cả học sinh mà các thầy giáo không tài nào cho vào
lớp được. Tất cả mọi người đều nhìn về phía cửa phòng thầy hiệu trưởng, và
có người nói: “Tội nghiệp cậu bé! Tội nghiệp Robetti!”. Ở tít đằng cuối
phòng lớn, người ta thấy nhô lên trên đám đông cái mũ của một người cảnh
vệ thị xã và cái đầu hói của thầy hiệu trưởng. Một ông đội mũ cao vừa đi vào,
và người ta thì thầm: “Kìa, bác sĩ”.
Bố tôi hỏi một thầy giáo: “Việc gì vậy, thưa thầy?”.
Thầy giáo trả lời: “Xe đè lên chân cậu ấy”.
Một người khác tiếp lời: “Và đã nghiến nát bàn chân cậu ta”.
Người bị nạn là một học sinh lớp hai. Cậu ta đang đi ở đường phố Dora
[4]
Grossa để đến trường, thì thấy một em bé lớp sơ đẳng tuột khỏi tay mẹ và
ngã xuống trước một chiếc xe chở khách đang chạy, chỉ cách xe có một bước.
Lập tức cậu ta dũng cảm lao đến cứu em bé, bế xốc em dậy. Không may bánh
xe đè lên chân cậu bé quả cảm. Cậu ta là con trai ông đại úy pháo binh. Câu
chuyện người ta kể cho chúng tôi đến đó thì một người đàn bà hốt hoảng, rẽ
đám đông đâm bổ vào trong phòng. Đó là mẹ của Robetti, mà người ta vừa
báo cho biết. Một người khác, mẹ của em bé được cứu sống, chạy lại ôm
choàng lấy cổ bà mẹ Robetti mà khóc nức nở, và dìu bà vào trong phòng thầy
hiệu trưởng. Ở bên ngoài, chúng tôi nghe tiếng kêu thất vọng của bà Robetti:
“Ôi, Giulio của mẹ, con yêu dấu của mẹ!”.
Một lát sau, một chiếc xe đỗ trước cổng và thầy hiệu trưởng đi ra, bế cậu
bé bị thương trên tay. Cậu bé đáng thương, mặt tái nhợt, mắt nửa nhắm nửa
mở, đầu tựa lên vai thầy hiệu trưởng. Thấy cậu, mọi người đều im lặng.
Người ...
 





