BẢN TIN HÔM NAY

TỔNG HỢP SỐ LIỆU HOẠT ĐỘNG HỌC KÌ I, NĂM HỌC 2024 – 2025. Thực hiện việc bổ sung sách báo tài liệu và tạp chí, luân chuyển sách báo phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập của GV và HS: Bổ sung sách GV, SGK: 390 quyển, quyển trị giá 11.488.000đ. Bổ sung tạp chí: 30 quyển trị giá 784.000đ.. Cập nhật tài liệu trên trang thư viện điện tử cập nhật được 5 cuốn/ ngày, đến ngày 12/01/2025 có 1139 file sách (học kì I tăng 750 file sách). Website Thư viện Tiểu học Thanh Bình đến ngày 12/01/2025 có 3252 file sách, link sách nói, video… (học kì I tăng 2240 file). Tổng số file sách online: 4.391 file. Tuyên truyền giới thiệu sách tới giáo viên, học sinh học kì I: 38 cuốn, và 03 video giới thiệu sách; 15 bài giới thiệu sách và tin về hoạt động Thư viện đăng đăng trên website của nhà trường và liên kết trực tiếp với PGD.

TÀI NGUYÊN SỐ

Video giới thiệu sách từ các lớp

HỌC LIỆU TIẾT HỌC - TIẾT ĐỌC THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Z7068391634024_e728b2146fbd0d3ab9141243ba8f745b.jpg Z7068391617504_bfbb5b659810eaa98be9e6dbb6961d32.jpg Z7068391617504_bfbb5b659810eaa98be9e6dbb6961d32.jpg Z7068391589013_9ebc5201ff749d04e79af0ab61d01cc8.jpg Z7068391583037_d8796e861d03d1a5173e53f771115dba.jpg Z7068390559876_566379532d4cf134741594c7833d05c6.jpg Z7068390556924_ed2e93f43b07954771ddbe95d4c7e51c.jpg Z7068379972927_e272b569e6f2eebe403f11d7cd6924b6.jpg Z6551496203851_541660cb127fb96f0c304a5b930441a6.jpg Z6551496203603_7d623e0ef640c7dc7a8ddfa7f60f3cf3.jpg Z6551496180143_466132e96efd0b0b9935093040a60493.jpg Z6551496179843_cdb1c71cfcb757f47560c395b57a7acf.jpg Z6551496177230_4c74026c87b1c1bcf0274edee0c135e6.jpg Z6551496177230_4c74026c87b1c1bcf0274edee0c135e6.jpg Z6551496174403_7a788a087f20d5306fe8e34fa2b78060.jpg Z6551394940185_ac8354f6287049dd635bcf9a9b1eccb3.jpg Z6551394935244_f160f58c66979ef902e45eea9dd16bda.jpg Z6551394894715_35748b0a3f72aea90b481e21ed6f48ad.jpg Z6551394893407_2d578e7eb1299f4b31529cda89dd256b.jpg Z6551394891688_d6832c3038583562f2f98b6b1a086c50.jpg

    SÁCH NÓI

    TẠP CHÍ THƯ VIỆN TIỂU HỊC THANH BÌNH

    CÁC CA KHÚC KỈ NIỆM NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC

    ĐIỆN BIÊN PHỦ - Mộc góc địa ngục

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hoàng Thị Phương
    Ngày gửi: 09h:39' 03-04-2025
    Dung lượng: 458.5 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

    Điện Biên Phủ - Một góc địa ngục
    Bernard B. Fall


    Đây được cho là một trong những tác phẩm kinh điển về trận đánh lịch sử
    này. Cuốn “Điện Biên Phủ - một góc địa ngục” được xuất bản bởi Nhà xuất
    bản Công an Nhân dân năm 2004. 

    Người dịch: Vũ Trấn Thủ
     

    Mục Lục
    Chương 1
    Chương 1B
    Chương 2
    Chương 3
    Chương 4
    Chương 5
    Chương 6
    Chương 7
    Chương 8
    Chương 9
    Chương 10
     

    Chương 1
     

    https://thuviensach.vn

    Lời tác giả
    Nhiều trận vây hãm đã kéo đài lâu hơn trận vây hãm ngôi làng ấy ở miền
    tây bắc Bắc Kỳ, ngôi làng có cái tên ít gợi cảm là “quận lị hành chính biên
    giới” - tiếng Việt Nam là Điện Biên Phủ.
    Quân Pháp tái chiếm thung lũng này trong khoảng thời gian hai trăm linh
    chín ngày và cuộc vây hãm chính thức thì kéo dài năm mươi sáu ngày.
    Quân Đức đã cầm cự bảy mươi sáu ngày ở Stalingrad; quân Mỹ cầm cự sáu
    mươi sáu ngày ở Bataan và hai mươi sáu ngày ở Corregidor. Quân Anh đã
    chống cự hai trăm bốn mươi mất ngày ở Tobrouk. Nhưng kỷ lục trong Đại
    chiến Thế giới lần thứ hai có lẽ thuộc về quân Đức đã giữ vững được
    Lorient trong hai trăm bảy mươi ngày, từ ngày giải phóng Bretagne đến
    ngày đế quốc Đức đầu hàng. Ở thời đại chúng ta, vô số những trận vây hãm
    đã đặt đối đầu nhau những lực lương quan trọng: 330000 quân Đức bị vây ở
    Stalingrad; quân Xô-viết bao vây tấn công họ thì gồm tới hơn một triệu
    người. Ở Điện Biên Phủ, lực lượng trấn giữ cứ điểm chưa bao giờ vượt quá
    con số 13000 người còn bên tấn công thì có 49500 chiến binh và 55000 dân
    công không được trang bị vũ khí.
    Tuy vậy đó là một trận đánh có tính chất quyết định ngang với trận la
    Marne đầu tiên, trận Stalingrad và trận Midway. Xung đột có thể kéo dài có khi trong nhiều năm - nhưng đáng dấp của cuộc xung đột đã hoàn toàn
    thay đổi. Một trong hai bên tham chiến đã mất mọi cơ may đạt tới mục tiêu
    chiến tranh của mình. Đó là chuyện đã xảy đến với quân Pháp sau thất bại
    Điện Biên Phủ. Trước tình hình chiến tranh Đông Dương kéo dài trong thế
    giằng co từ 19 tháng Chạp năm 1946, người Pháp đã thỏa thuận - một cách
    quá miễn cưỡng để có thể rút ra được từ cử chỉ ấy dù chỉ một chút lợi thế
    chính trị hoặc tăm lý nào đó - giành cho chế độ không cộng sản của cựu
    Hoàng đế Bảo Đại vài đặc quyền nhưng hầu như không có chút chủ quyền
    thực tế nào. Mặt khác, chiến tranh càng mở ra những lỗ hơng lớn trong
    hàng ngũ đội quân nhà nghề, càng làm ngân quỹ nước Pháp mắc nợ (cuối
    cùng thì chiến tranh đã tiêu tốn của nước Pháp khoảng 5000 tỉ franc cũ,

    https://thuviensach.vn

    chưa kể 477 tỉ tiền viện trợ của Mỹ thực tế đổ vào Đông Dương trước tháng
    bảy 1954) thì càng hiển nhiên là nước Pháp không còn mục tiêu chiến tranh
    được xác định một cách rõ ràng nữa. Vị tổng chỉ huy khốn khổ ở Đông
    Dương vào thời kỳ Điện Biên Phủ, tướng Navarre, đã tuyên bố mấy năm
    sau, trong cuốn Đông Dương hấp hối của mình, rằng có thể có hai mục tiêu
    chiến tranh nhưng mâu thuẫn nhau. Mục tiêu thứ nhất có thể là giải phóng
    các Quốc gia Liên kết khỏi sự thống trị của Việt minh và trao độc lập cho
    họ. Như vậy thì người ta chỉ có thể chờ đợi nước Pháp dốc toàn sức ra một
    mình tiến hành cuộc chiến tranh nếu ba nước Đông Dương chấp nhận
    những “mối liên hệ đặc biệt” với nước Pháp, những mỗi liên hệ xứng đáng
    với máu và tiền của đổ vào cuộc chiến tranh, và nếu họ đem hết khả năng
    tối đa của mình giúp nước Pháp trong cuộc chiến tranh ấy. Mục tiêu thứ”
    hai có thể là tham gia một cách đơn giản vào chính sách của Mỹ ngăn chặn
    chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam á. Thế thì tất cả các quốc gia liên quan đén
    cuộc chiến tranh ấy chí ít cũng có nhiệm vụ tham gia vào đó ngang bằng
    với nước Pháp.
    Chính vì Hoa Kỳ sau đó đã chấp nhận quan điểm ấy mà bộ trưởng Dean
    Rusk và bộ trưởng quốc phòng Mac Namara đã đến Paris vào tháng Chạp
    năm 1965 để yêu cầu các thành viên khác của khối Bắc Đại Tây Dương ủng
    hộ Hoa Kỳ một cách trực tiếp hơn và đầy đủ hơn trong cuộc đấu tranh mà
    họ tiến hành hầu như một mình - nếu không kể quân đội Nam Việt Nam và
    một vài đơn vị nhỏ của một vài nước nhỏ gưi tới. Kết quả đạt được xem ra
    là không đáng kể.
    Khác với Hoa Kỳ, nước Pháp không bao giờ có đủ những phương tỉện để
    làm một mình cái việc mình phải làm. Và nước Pháp biết rằng dư luận”ở
    chính quốc, sự mệt mỏi của dân chúng tại địa bàn mình tiến hành chiến
    tranh - một yếu tố ngày nay hay bị quên - đòi hỏi phải tìm” ra được một giải
    pháp nhanh chóng cho cuộc xung đột. Hoặc là, nếu không giành được chiến
    thắng thì cũng tạo ra được một tình thế cho phép quân đội quốc gia các
    nưồc liên kết Tiệt Nam, Cao Miên, Lào) thanh toán được với chiến tranh du
    kích một khi quân đội chính quy Pháp đã tiêu diệt được đội quân chủ lực

    https://thuviensach.vn

    của địch sau một loạt những trận giao chiến lớn. ” Một sự khác nhau nữa so
    với Hoa Kỳ là nước mà Tổng thống có quyền đưa một con sốkhông hạn chế
    binh lính Mỹ vào những cuộc chiến tranh không tuyên bố ở hải ngoại: ở
    Pháp, một điều bổ sung vào luật tài chính năm 1950 cấm chính phủ đem
    binh lính thuộc biên chế trong nước sử dụng ở ngoài lãnh thổ chính quốc nước Pháp và Algérie - và những vùng chiếm đóng tại Đức và áo, do đó đã
    giới hạn khá nhiều quân số có thể đưa vào chiến trường Đông Dương. Các
    chính phủ của nền Cộng hoà thứ tư bị co kéo gíữa những cam kết và nhũng
    ưu tiên không thể dung hợp được với nhau - tham gia khối quân sự Bắc Đại
    Tây Dư”jng tức là bảo vệ Châu âu chống lại chủ nghĩa cộng sản, và chống
    lại chính cái chủ nghĩa cộng sản ấy tại một vùng Châu Á xa xôi - cho nên
    họ phải bủn xỉn cắt xén trong cả hai việc. Bị lấy mất phần lớn những sĩ
    quan và hạ sĩ quan thường trực của nó, các đơn vị quân đội Pháp đóng ở
    Châu âu chắc là sẽ chẳng phát huy tác dụng gì đáng kể trong trường hợp
    xảy ra chiến tranh, còn những đơn vị thường trực gửi sang Đông Dương thì
    chỉ là những đơn vị khung cần được bổ sung một cách vội vàng bằng binh
    lính tuyển mộ tại chỗ. Tháng Năm năm 1953, khi nhận 1 nhiệm vụ chỉ huy,
    tướng Navarre đã yêu cầu gửi 1 tới cho ông 12 tiểu đoàn bộ binh, một đội
    pháo binh 1 có thể thả dù được, một tiểu đoàn công binh, cùng 1 với 750
    quan và 2550 hạ sĩ quan để tăng cường 1 bộ khung cho một số đơn vị. Rốt
    cuộc ông chỉ nhận 1 được 8 tiểu đoàn, 330 sĩ quan, 200 hạ sĩ quan và 1
    được báo trước rằng những quân tiếp viện đó chỉ đơn thuần là một sự “tạm
    ứng trước”, nghĩa là ho được trích ra từ kế hoạch dự kiến cho năm 1954.
    Trong khi đó, đối phương không ngừng được tăng cường, đặc biệt là bằng
    những đại đoàn chính quy được huấn luyện tốt và có khả nặng chống chọi
    với những gì tốt đẹp nhất mà nước Pháp có thể đưa ra để đối đầu với họ.
    Mười hai năm sau, quân Bắc Tiệt Nam cũng chẳng hề do dự đọ sức với
    những đơn vị quân đội tinh nhuệ nhất của Hoa Kỳ. Chiến tranh Triều Tiên
    đã kết thúc vào cuối tháng Bảy năm 1953 bằng một thoả hiệp, Trung Quốc
    bắt đầu ồ ạt gửi sang bắc Việt Nam huấn luyện viên và binh khí kỹ thuật do
    Nga và Mỹ sản xuất. Việt Minh lúc đó có bảy đại đoàn cơ động và một đại

    https://thuviensach.vn

    đoàn pháo binh được trang bị đầy đủ. Chẳng bao lâu nữa họ sẽ còn nhận
    được nhiều hơn từ những trại huấn luyện Trung Quốc ở Ching Sai và Nan
    Ning. Do đó, một việc khẩn cấp cho người Pháp là phải tiêu diệt được bộ
    phận lớn đội quân chủ lực địch. Nhưng muốn được như vậy thì phải buộc
    được nó giao chiến với mình trong một trận đánh dàn trận chính quy, nghĩa
    là bày ra một mục tiêu đủ hấp dẫn để nó muốn tấn công, và đủ mạnh để
    chống lại được nó. Đó là một canh bạc đầy bất trắc bởi vì cái được đem ra
    đặt cược không phải chỉ là số phận của quân đội Phápại Đông Dương và vai
    trò của nước Pháp ở Đông Nam á, màcòn là sự duy trì được nước Việt Nam,
    và trên một chừng mực nào đó cả nước Lào và Cao Miên trong phe những
    nước không cộng sản; và thậm chí cứ như lời những người lo ngại hiện
    tượng vết dầu loang, thì đó còn là việc duy trì được một sự. có mặt nào đó
    của phương Tây trên cái lục địa mênh mông trải ra từ Calcutta đến Hongkong, qua Singapore.
    Cuốn sách của tôi là câu chuyện về canh bạc đó Năm 1962, khi ông giám
    đốc tủ sách “Những trậnđánh lớn trong lịch sử”, nhà sử học nổi tiếng và nhà
    văn quân đội Mỹ Hanson W. Baldwin, đề nghị tôi viết quyển sách này, tôi
    đã bắt tay vào íàm không phải không có e ngại. Sau khi tiến hành khảo cứu
    về những khía cạnh còn thiếu tế nhị hơn nhiều của chiến tranh Đông
    Dương, tôi đã nhận thấy rằng nếu không được tiếp cận những hồ sơ lưu trữ
    quân sự thì sẽ cực kỳ khó để viết ra được với một sự chính xác nào đó
    những gì đă diễn ra ở Điện Biên Phủ. Đpc qua những tác phẩm viết về trận
    đánh, với tất cả những mâu thuẫn và sai sót của nó, tôi chỉ càng thêm lo
    ngại. Trong khi yêu cầu các nhà chức trách Pháp cho phép tôi được tham
    khảo những tài liệu chính thống, tôi không quên nói với họ rằng chuyện kể
    lại chính xác một cách khoa học những gì đã diễn ra ở Điện Biên Phủ sẽ
    không là sự ca ngợi các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự Pháp ở Viễn
    Đông. Nhưng tôi đã nói thêm rằng điều đáng lo ngại là những điều thêu dệt
    và những điều dối trá trong bao năm qua thay vì sự thật sẽ xuyên tạc lịch sử
    một cách không cứu vãn được và ngăn cản những ai ngày nay còn quan tâm

    https://thuviensach.vn

    đến Việt Nam hiểu được những sự kiện hiện tại về một số mặt. nào đó
    chúng là sự phát triển của những sự kiện xảy ra trong mùa xuân 1954.
    Trong khi chờ đợi được sự cho phép đó, tôi bắt tay vào công việc tiếp xúc
    với những người còn sống sót. Người Pháp thì còn vô khối. V họ nắm tất cả
    những cương vị chỉ huy về phía ta cho nên việc thu thập được những lời kể
    của họ có một tầm quan trọng hàng đầu. Tuy nhiên tôi nhận thấy rằng lời kể
    của họ - như thường xảy ra khi những người sống sót kể lại cuộc phiêu lưu
    của họ vào những lúc khác nhau và cho những người khác nhau - bao hàm
    những chỗ sai sót và không tránh khỏi những định kiến, ở một số người là
    do muốn tranh công. Quân nhảy dù cho rằng họ đã phải gánh phần lớn các
    cuộc chiến đấu. Quân lê dương thì dứt khoát rằng họ là những trụ cột của
    cuộc kháng cự. Các sĩ quan trước kia thuộc những đơn vị bị coi là chiến đấu
    không tất khẳng định rằng những lời buộc tội đó là không có cơ sở. Thêm
    nữa không một câu chuyện kể lại nào về Điện Biên Phủ - bắt đầu từ câu
    chuyện của tôi đây - có thể thoát khỏi bị ảnh hưởng bởi cuộc khẩu chiến
    quyết liệt diễn ra - ngay cả trước một phiên toà ở Paris - giữa tướng
    Navarre, tổng chỉ huy ở Đông Dương, và trung tướng René Cogny, hạ cấp
    trực tiếp của ông ta ở Bắc Việt Nam hầu như tất cả những người còn sống
    sót đều đứng về một phe trong cuộc tranh chấp ấy, cuộc tranh chấp được
    phản ảnh trên một chừng mực nào đó trong các hồ sơ lưu trữ.
    Chẳng bao lâu sau, tôi hết sức ngạc nhiên nhận thấy rằng xem ra không ai
    quan tâm thu lượm lời kể của những thành phần không phải là người Pháp:
    lính lê dương, lính Bắc Phi và lính Việt Nam, những người hợp thành 70%
    của đội quân trấn giữ Điện Biên Phủ. Mặc dầu có đôi chút khó khăn, tới gặp
    họ tôi cũng được đón tiếp với một thái độ thân tình và thông cảm đặc biệt.
    Chưa đến một năm sau khi giành giật được độc lập cho nước mình từ tay
    người Pháp, chính phủ nước Cộng hòa Algérie đã cho phép tôi được tiếp
    xúc với những cán bộ quân đội của họ đã từng chiến đấu ở Điện Biên Phủ
    và nhiều người sau đó đã cầm vũ khí chống lại nước Pháp ở Algérie. Năm
    1962, tại Bắc Việt Nam, tôi không gặp một khó khăn nào để tiếp xúc được
    với những con người kiêu hãnh kể lại chiến thắng của họ. Dễ dàng nhận ra

    https://thuviensach.vn

    họ ở huy hiệu mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã gắn cho họ: cái huy hiệu ấy họ
    đeo cả khi ăn mặc thường dân. Thành thử té ra người lái xe cho tôi đã từng
    là xạ thủ đại liên ở Điện Biên Phủ. Ở Nam Việt Nam và ở Pháp, một số
    người sống sót đã đáp ứng những lời nhắn tin của tôi đăng trên các báo.
    Một viên chức nhà đoan ở sân bay Tahiti đã chiến đấu ở Điện Biên Phủ.
    Một người được gắn Bắc đẩu Bội tinh được phát hiện ra trong toán những
    người canh gác mộ Napoléon và tên một người khác nữa đã được tìm ra
    nhờ một bài báo của New York Times nói về du lịch ở Sahara.
    Năm 1963, khi nhận được giấy của bộ trưởng bộ các lực lượng vũ trang,
    ngài Pierre Messmer, cho phép tôi được tiếp cận các hồ sơ lưu trữ, tôi bị
    mắc một cơn bệnh thập tử nhất sinh. Năm 1964 - 1965, nhờ một món trợ
    cấp nghiên cứu của đại học Howard, tôi dẫu sao cũng đã hoàn thành được
    công việc sưu tầm tài liệu. Cần nói ngay rằng hầu hết những tài liệu có ở
    Điện Biên Phủ - nhật ký hành quân, văn bản những bức điện trao đổi giữa
    các đơn vị, v v - đã bị thiêu huỷ trước khi tập đoàn cứ điểm thấtthủ, hoặc đã
    rơi vào tay quân cộng sản. Thêm nữa, duy chỉ có quân đội nhân dân Việt
    Nam - quân đội Bắc Việt mà đến năm 1954 người ta còn gọi là quân Việt
    Minh - là có tiến hành một cách quy củ việc nghe những người còn sống sót
    báo cáo lại ngay sau trận đánh. Nói đúng ra thì chỉ có tướng Võ Nguyên
    Giáp là có đủ thẩm quyền để viết cuốn sách này. Nhưng do bận nhiều công
    việc, cho tới nay ông chỉ công bố được vài bài nghiên cứu về đề tài này.
    Những hồ sơ lưu trữ của Pháp hiện đang được đem ra nghiên cứu - biên chể
    của ban lịch sử quân đội gồm những. người rất có năng lực nhưng quân số
    rất hạn chế và xét về chương trình làm việc thì vai trò của nó là rất có hạn,
    do có quy định rằng chỉ sau năm mươi năm thì các tư liệu mới được công
    bố in extenso (toàn bộ). Nhưng những tư liệu ấy rất đầy đủ, nhất là những
    báo cáo về những cố gắng để ứng cứu o tập đoàn cứ. điểm và việc tiếp tế
    cho nó trong thời gian trước ngày 24 tháng Ba năm 1954, là ngày tập đoàn
    cứ điểm bị cắt đứt khỏi thế giới bên ngoài. Phần lớn những tư liệu ” sau thời
    điểm đó là những bản sao các bức điện trao đổi giữa Hà Nội và Điện Biên
    Phủ. Một số tư liệu - nghe nói là không nhiều lắm - hiện còn đang trong tay

    https://thuviensach.vn

    ủy ban điều tra về thảm họa. Một số tư liệu không thể nào tìm thấy trong
    các tủ hồ sơ lưu trữ mặc dầu chúng có tính chất là giấy tờ chính thức. Có lẽ
    chúng đang ở trong tay những diễn viên chính của bi kịch, bởi vì chúng đã
    được công bố trong một số những tác phẩm Pháp mà tác giả đã tham gia
    vào cuộc khẩu chiến giữa Navarre và Cogny. Cuối cùng cơ quan hồ sơ lưu
    trữ của hải quân và không quân đã cung cấp cho tôi một số lượng lớn những
    tài liệu rất quý về mặt hàng không - mặt chủ yếu - của trận đánh.
    Vớì khối tư liệu đó trong tay, các cuộc tiếp xú( của tôi với phần lớn những
    người chỉ huy chiến thuật, trong nhiều trường hợp có kèm theo trao đổi thư
    từ, đã tỏ ra là hết sức quý báu. Tiếc thay, chỉ hiếm khi tôi mới tập hợp họ lại
    được trong một cuộc trao đổi tập thể, vì lý do đơn giản là những người sống
    sót từ Điện Biên Phủ ngày nay ở phân tán khắp nơi. Cái hình thức họp trao
    đổi chung ấy, mà nhà sử học Mỹ nổi tiếng, tướng S.L.A. Marshall, thường
    hay thực hiện, là đặc.biệt có ích khi người ta muốn dựng lại những gì đã
    diễn ra trong những lúc rối ren khi tình hình thay đổi từng lúc. Những lúc
    rối ren ấy thì có nhiều ở Điện Biên Phủ. Trong một trường hợp đặc biệt, tôi
    đã ghi chép được những chi tiết cụ thể mà nhiều sĩ quan đã cung cấp cho
    tôi, ìiên quan đến một cứ điểm được ghi sai tlên các bản đồ được quân đội
    Pháp phác họa ra sau trận đánh.
    Như thế không có nghĩa là trong cuốn sách này tôi đã có thể giải đáp được
    tất cả những câu hỏi mà người ta vẫn còn đặt ra về trận đánh. Quá nhiều
    người đã mang theo những bí mật của họ xuống mồ và có quá nhiều những
    câu chuyện huyền thoại được đơm đặt ra thay vì sự thật. Những ghi chép
    của tôi và những băng ghi âm về những cuộc tiếp xúc điều này có cần nói
    lên không, đã không được một ai duyệt và chứng nhận cả. Tất cả những lời
    đối thoại, tất cả những tuyên bố mà bạn đọc đọc thấy sau đây là sao lại
    những lời kể trực tiếp chứ không phải là dựng lại các sự kiện sau khi nó xảy
    ra. Và nếu cái câu công thức mọi người đều biết “Tôi xin thề nói lên sự thật,
    toàn bộ sự thật, không sợ hãi và không thù hằn ” có một ý nghĩa thì tôi cho
    rằng người ta có thể nói một cách hoàn toàn công bằng rằng đó chmh là cái
    tôi đang làm ở đây.

    https://thuviensach.vn

    Việc nhắc đến tất cả những người đã có đóng góp với tôi có thể làm cho
    nhiều người lúng túng do những chức vụ họ đang đảm nhiệm. Ngoài ra điều
    đó còn có nghĩa là làm họ phải chia sẻ trách nhiệm về những điều tôi nêu
    lên, trong khi tôi lại muốn chỉ một mình mình hoàn toàn chịu trách nhiệm.
    Tuy nhiên tôi muốn ngỏ lời cảm ơn các thủ trưởng và nhân viên các ban sử
    của lục quân, hải quân và không quân Pháp đã vui lòng chia sẻ với một kẻ
    cha vơ chú váo những nguồn tài liệu khiêm tốn của họ với một thái độ lịch
    thiệp không thể chê trách: thiếu tá Jean Pouget, tác giả cuốn sách tuyệt vời
    Chúng tôi đã ở Điện Biên Phủ, đã đồng ý cho tôi sử dụng một số bản ghi
    chép riêng của ông; đại tá Jules Roy, tác giả cuốn Trận Điện Biên Phủ cuốn sách đã xem xét vấn đề theo một cách mới và rất có ích cho tôi trong
    việc xác định cụ thể các sự kiện; ông Hanson W. Baldwin đã làm công việc
    hiệu đính một cách tỉ mỉ và khéo léo; và cảm ơn Dorothy vì đã chăm sóc
    tôi, đem sức khỏe trở lại cho tôi và đã chịu đựng một người chồng suốt ba
    năm ròng hầu như lúc nào đầu óc cũng để ở một vùng thung lũng nhỏ xanh
    rờn tại miền Bắc Việt Nam.
     
     

    Chương 1B
     

    NATACHA
    “Castor” chắc hẳn là cuộc hành binh không vận đầu tiên mà chiếc máy bay
    dẫn đầu mang trong khoang của nó ba vị tướng đi cùng với những chiến
    binh dù mở đường, và chắc hẳn nó là cuộc hành binh cuối cùng. Các tướng
    ấy là tướng không quân bốn sao Pierre Bodet, phó tướng của tổng tư lệnh
    Đông Dương, trung tướng không quân Jean Dechaux, tư lệnh binh đoàn
    không quân chiến thuật bắc (G.A.T.A.C. - Bắc), và thiếu tướng Jean Gilles,
    tư lệnh quân nhảy dù Đông Dương.

    https://thuviensach.vn

    Đó là một máy bay vận tải hai động cơ Ci7 do Mỹ sản xuất đã cất cánh từ
    sân bay Bạch Mai vào lúc 5 giờ sáng ngày 20 tháng Mười Một năm 1953,
    trong khoang chất đầy điện đài và mang theo tám giờ nhiên liệu. Máy bay
    đó có một nhiệm vụ kép.
    Nó phải đánh giá điều kiện thời tiết trên vùng thung lũng có thuận lợi hay
    không và có nên hay không thả một toán quân dù thiện chiến đi trước đại
    quân, nhảy xuống chiếm những drop zones (D.Z), tức là những bãi nhảy dù,
    để đặt những thùng pháo sáng làm cọc tiêu.
    Nếu điều kiện thời tiết xấu thì cuộc hành binh sẽ bị huỷ bỏ. Quả vậy, không
    thể nào để các máy bay vận tải nằm chết dí ở Hà Nội được: người ta đang
    quá cần chúng ở các nơi khác.
    Vào lúc 6 giờ 30, khi máy bay bay lượn trên thung lũng, tầm nhìn xa hầu
    như là zero do có mưa phùn cái thứ mây mù nó là đặc điểm khí hậu của
    vùng Tây Bắc Việt Nam ngay cả trong mùa khô. Lúc này quyết định cho
    nhảy hay hoãn nhảy thụộc về trách nhiệm của tướng Dechaux.
    Máy bạy bay từ từ lượn những vòng rộng bên trên thung lũng phủ kín
    sương mù. Trong khoang lái đầy ngườ một sĩ quan hàng không vận tải và
    một nhân viên khí tượng của không quân cân nhắc liệu có khả năng sương
    mù tan kịp cho cuộc nhảy hay không. Đến 7 giờ, những tia nắng mặt trời
    mọc bắt đầu soi rọi những tầng mây trên, những đám mây này tan đi trông
    thấy. Người nhân viên khí tượng ti n đến bên tướng Dechaux đang quan sát
    thung lũng qua cửa sổ máy bay, nói với ông ta vài lời, nhưng lời nói của anh
    bị át đi trong tiếng động cơ.
    Dechaux tiến đến bên báo vụ viên chịu trách nhiệm giữ liên lạc radio trực
    tiếp với bộ tham mưu ở Hà Nội và trao cho anh ta một bức điện. Bức điện
    này tới tướng Cogny tư lệnh Lực lượng trên bộ Bắc Việt Nam (F.T.N.V)
    vào lúc 7 giờ 20 và lập tức được ông ta chuyển cho người chỉ huy không
    quân vận tải Đông Dương đang ngồi trong máy bay đợi ở sân bay Bạch
    Mai. Cuộc hành binh “Castor” đã bắt đầu Cho tới lúc ấy, cái tháng Mười
    Một năm 1953 này đã thật sự là một địa ngục đối với các phi hành đoàn của

    https://thuviensach.vn

    không quân vận tải. Ba phi đoàn vận tải mà bình thường miền Bắc Việt
    Nam vẫn có, đoàn 1/64 “Béarn”, đoàn 2/64 “Anjoư” và đoàn 2/63
    “Sénégal”, liên tục được huy động vào những hoạt động yểm hộ chiến đấu
    chống đại đoàn Việt Minh 320 tại vùng tây nam châu thổ sông Hồng. Thực
    tế là họ cũng mới chỉ trở về căn cứ vào chiều 19 tháng Mười Một và các thợ
    máy đã thức hầu như suốt đêm sửa chữa bảo dưỡng những chiếc máy bay
    mệt mỏi để sáng hôm sau chúng có thể làm nhiệm vụ.
    Tuy nhiên đó không phải là nỗi lo duy nhất của viên tư lệnh không quân
    hiện tại, đại tá Jean- Louis Nicot. Được thông báo ngày 10 tháng Mười Một
    bằng công văn tuyệt mật là cuộc hành binh “Castor” được ấn định vào ngày
    20 tháng Mười Một, ông ta đã làm hết sức mình để huy động được tối đa
    những máy bay và phi hành đoàn ông có.
    Một trong những khó khăn của ông ta là tại Đông Dương số phi hành đoàn
    có ít hơn số máy bay. Cho nên vào giữa tháng Mười Mt, ông ta chỉ có năm
    mươi hai phi hành đoàn quân sự cho máy bay C47 và mười phi hành đoàn
    cho C 1 19 ; vậy mà 7 1 Dakota C47 đã được trao cho ông ta để làm nhiệm
    vụ Bằng cách rút đến mức tối thiểu số người trong mỗi phi hành đoàn và
    bằng cách huy động tất cả những sĩ quan không quân của bộ tham mưu, kể
    cả chính ông ta, Nicot đã tổ chức được 67 phi hành đoàn cho 67 chiếc
    Dakota ở trong tình trạng có thể làm nhiệm vụ ngày 20 tháng Mười Một.
    Vào lúc 5 giờ sáng, trong buổi bình minh ảm đạm của mùa khô, các phi
    hành đoàn được tập trung lại ong doanh trại của họ và đến 5 giờ 50 bắt đầu
    nhần lệnh. Chính Nicot đứng ra giải thích cho họ những gì họ phải làm:
    Sau khi thông báo cho họ biết đây là một cuộc nhảy dù xuống Điện Biên
    Phủ, ông đã nêu chi tiết công việc phải làm như thế nào. Máy bay sẽ được
    phân chia thành hai phi đoàn, mỗi phi đoàn gồm bốn phi đội. Phi đoàn thứ
    nhất - 33 chiếc Dakota - sẽ được đặt dưới sự chỉ huy của thiếu tá Fourcaut,
    mật danh “Thủ trưởng Vàng ” và sẽ cất cánh từ sân bay Bạch Mai. Phi đoàn
    thứ hai - 32 Dakota - sẽ được đặt dưới quyền chỉ huy của thiếu tá Martinet,

    https://thuviensach.vn

    mật danh “Thủ trưởng Đỏ”, và sẽ cất cánh từ sân bay Gia Lâm. Đại tá Nicot
    sẽ trực tiếp nắm phi đoàn thứ nhất. Mật danh của ông ta là “Texas”.
    Hai phi đoàn cất cánh cách nhau ba phút, các phi đội cách nhau một phút và
    các tốp gồm ba máy bay một sẽ cất cánh cách nhau mười giây. Mỗi máy
    bay mang theo 2100 lít nhiên hệu. Trong ngày hôm ấy, phi đoàn thứ hai sẽ
    thực hiện một cuộc thả dù lần thứ hai: 24 máy bay sẽ thả trang thiết bị, 8 thả
    quân. Xế chiều sẽ có một cuộc thả quân nữa. Việc thả trang thiết bị sẽ
    không được kéo dài quá 20 phút.
    Sau đó là những mệnh lệnh cuối cùng về hành quân: góc tiếp cận bãi nhảy
    dù: 170 độ; độ cao: 950 mét. Thả xong trang thiết bị hoặc người, các máy
    bay sẽ phải lượn vòng 180 độ bay đi khỏi khu vực thả dù với tốc độ 150
    mét/phút. Cuộc bay dự kiến sẽ kéo dài 76 phút 10 giây.
    Tiếp theo đó là những quy định kỹ thuật: tốc độ cất cánh, tốc độ đường
    trường, tốc độ thả dù, tần số radio, những bãi hạ cánh cấp cứu (trong vòng
    160 kilômét không có bãi nào cả) và cuối cùng là những quy định về hợp
    đồng tác chiến với các máy bay tiêm kích - ném bom và máy bay ném bom
    cũng trong thời gian đó hoạt động quanh Điện Biên Phủ.
    Vào lúc 7 giờ sáng, việc truyền đạt mệnh lệnh kết thúc và đến 7 giờ 15, các
    phi hành đoàn lên máy bay, các khoang máy bay đã đầy quân dù và trang
    thiết bị. Trong khi chờ đợi lệnh xuất phát, hầu như mọi người trong các phi
    hành đoàn đều chăm chú quan sát mây. Về nguyên tắc thì động cơ phải
    được khởi động vào lúc 7 giờ 20 nhưng mãi gần đến 8 giờ thì lệnh xuất phát
    mới tới ban tham mưu hàng không vận tải ở Bạch Mai. Các máy radio lập
    tức bắt đầu tí tách, 70 động cơ gầm rú trong khi những quả pháo hiệu đỏ từ
    những trạm kiểm soát trên hai sân bay Bạch Mai và Gia Lâm bay vọt lên
    trời. Những chiếc máy bay nặng nề tiếp theo nhau lăn bánh trên đường băng
    và cất cánh.
    Đoàn chim sắt chậm chạp lượn vòng trên bầu trời sân bay chờ cho chiếc
    máy bay cuối cùng xếp vào đội hình, và đến 8 giờ 1 5 th.ì tất cả nghiêng

    https://thuviensach.vn

    cánh, dần dần biến mất hút về phía tây, hướng tới những dãy núi hiểm trở
    long lanh dưới lớp áo xanh.
    Cũng như giờ đáy, cái làm những người chỉ huy quân sự bận tâm nhất, đó là
    việc không thể nào giữ được tuyệt đối bí mật. Chính vì lý do đó mà Cogny
    chỉ thông báo nhiệm vụ cho tướng Dechaux vào ngày 12 tháng Mười Một,
    ngha ìà chưa đến bảy ngày trước khi bắt đầu cuộc hành binh không vận mà
    ông ta phải chỉ huy. Lệnh rất vắn tắt và chỉ nói đến chuyện chiếm đóng
    thung lũng Điện Biên Phủ. Lệnh dự kiến: dựng lên ở Điện Biên Phủ “một tổ
    chức phòng ngự có nhiệm vụ bảo vệ sân bay, loại trừ mọi tổ chức muốn bố
    trí một vành đai các trung tâm đề kháng xung quanh sân bay” và khả năng
    có thể sử dụng năm tiểu đoàn chiếm đóng, trong đó hai tiểu đoàn hoạt động
    ở vùng lân cận. Cũng mệnh lệnh ấy đã được truyền đạt cho tướng Gilles.
    Gilles đã được cho biết là có quân địch hoạt động trong vùng thung lũng
    cho nên một cuộc nhảy dù xuống Điện Biên Phủ có thể vấp phải sự chống
    cự nào đó, chí ít cũng ìà lúc ban đầu. Vì vậy đối với ông ta lý tưởng nhất là
    thả xuơng thung lũng bơn tiểu đoàn cùng một lần để có đủ lực lượng bao
    vây quân địch và nếu có thể thì bắt sống viên trung đoàn trưởng của họ.
    Tiếc thay, số lượng hạn chế về máy bay và phi hành đoàn buộc phải thực
    hiện cuộc hành binh làm hai đợt: ”sau khi thả dù xong đợt thứ nhất, các
    máy bay lại quay trở lại Hà Nội nhận những quân và trang thiết bị thả đợt
    thứ hai. Do đó Giìles quyết định trong đợt thứ nhất thả hai tiểu đoàn thiện
    chiến nhất mà ông ta có ở Đông Dương: tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 (6
    B.P.C.) của tiểu đoàn trưởng Marcel Bigeard và tiểu đoàn hai thuộc trung
    đoàn dù tiêm kích số một (211 R.C.P.) của tiểu đoàn trưởng Jean
    Bréchigllac. Tiểu đoàn 2/1 R.C.P. thuộc trung đoàn dù thứ nhất được thành
    lập ở Bắc Phi sau cuộc đổ bộ của quân đồng minh năm 1942. Sau khi chiến
    đấu ở Pháp, nó được điều sang Đông Dương tham gia các cuộc hành quân
    tại “Đường - phố - Không - Vui”. Tiểu đoàn 6 B.P.C. là một tiểu đoàn biệt
    kích đã từng tham gia tất cả những trận đánh lớn diễn ra từ năm 1951. Đặc
    biệt Bigeard đã chỉ huy nó trong trận đánh đẫm máu ở Tú Lệ, ở đó nó được
    giao nhiệm vụ làm cái mồi để thu hút địch, đỡ đòn cho các đơn vị khác

    https://thuviensach.vn

    đóng trên vùng đồi xứ Thái. Cùng với tiểu đoàn dù thuộc địa số 1 (1 B.P.C.)
    được thả dù vào lúc 14 giờ ngày 20 tháng Mười Một, hai tiểu đoàn trên hợp
    thành binh đoàn không vận số 1 (G.A.P. l) dưới sự chỉ huy của trung tá
    Fourcade: Tiểu đoàn 1 B.P.C. mà tiểu đoàn trưởng là Jean Souquet cũng là
    một tiểu đoàn tinh nhuệ. Nó đã đến Đông Dương lần thứ nhất vào tháng
    Giêng năm 1947 và sau một thời gian ở Châu âu, nó lại trở lại Đông Dương
    vào tháng Sáu năm 1953. ...
     
    Gửi ý kiến